A Dật Đa

《阿逸多》 ā yì duō

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Ajita. Một trong những vị Đệ Tử của đức Phật. Cũng gọi là A- thị-đa, A-di-đá. Dịch ý: Vô thắng, Vô năng thắng (không ai hơn được) hoặc Vô Tam Độc (không có ba độc Tham Sân Si). Ngài lập chí trong tương lai sẽ thành Chuyển Luân Thánh Vương tên là Nhương Khư (Phạm: Zaôkha, Loa). Xưa nay thường cho A-dật-đa tức là Di-lặc, nhưng tựa hồ còn có một người khác nữa. Trong bài kệ Tựa phẩm Bỉ Ngạn đạo (Pàràyana-vagga) của Kinh Tập (Suttanipàta) trong Đại Tạng Kinh Pāli nêu tên của hai vị A-thị-đa và Đế-tu-di-lặc (Tissametteyya) tức hoàn toàn cho đó là một người khác. Hơn nữa, phẩm ấy còn nêu cả hai kinh: A Thị Đa Vấn Kinh (Ajitamàịavapucchà) và Đế Tu Di Lặc Vấn Kinh (Tissametteyyamàịavapucchà). Lại kinh Thuyết bản trong Trung A-hàm quyển 13 và kinh Hiền Ngu quyển 12 chép: Tôn giả A-di-đá, trong vị lai lâu xa, khi con người sống tám vạn tuổi, nguyện thành Chuyển Luân Thánh Vương tên là Loa. Tôn giả Di-lặc, cũng trong vị lai lâu xa, khi người sống tám vạn tuổi,nguyện Thành Phật, hiệu là Di-lặc Như Lai. Luận Đại-tì-bà- sa quyển 178 cũng chép: Tỉ-khưu A-thị-đa đối với các cái có, khởi tâm ưa thích, khởi tâm Thắng Giải, khởi tâm mến mộ, khởi tâm hy vọng, khởi tâm tìm cầu, cho nên bị đức Phật quở trách. Còn Bồ-tát Từ Thị, đối với các cái có, không khởi tâm ưa thích cho đến tìm cầu; đối với các việc Lợi Lạc hữu tình, thì khởi Từ Tâm ưa thích cho đến tìm cầu; thế nên được đức Phật khen ngợi. Những kinh luận kể trên nói A-dật-đa và Di-lặc là hai người, cùng là Đệ Tử của Phật ở thời đại Ngài và được Ngài giáo hóa. [X. kinh Trung A-hàm Q. 5.; kinh A-la-hán Cụ Đức; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q. 25.; Tuệ Uyển Âm Nghĩa Q.Thượng; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q. 22.].