Vô Vi

《無爲》 wú wèi

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: asaṁskṛta, Pāli: asaṅkhata: tồn tại không phải được sinh thành từ Nguyên Nhân hay Nhân Duyên là chân thực tại của thường trú tuyệt đối mang tính siêu thời gian vốn vượt qua khỏi sự thành lập hay hoại diệt, và tách ly khỏi mối quan hệ nhân quả. Đây là ngôn từ dùng để chỉ cái tuyệt đối vô hạn định mà rời xa khỏi hiện tượng, cho nên nó còn được dùng làm tên gọi khác của Niết Bàn (Sanskrit: nirvāṇa, Pāli: nibbāna ). Trong Câu Xá Luận () có nêu ra 3 loại Vô Vi là Hư Không (), Trạch Diệt () và Phi Trạch Diệt (). Trong Du Già Sư Địa Luận () thì đưa ra 8 loại khác là Hư Không (), Phi Trạch Diệt (), Trạch Diệt (), Thiện (), Bất Thiện (), Vô Ký Pháp (), Chơn Như (), Bất Động Tưởng Thọ Diệt (). Theo Lão Trang thì nó có nghĩa là cứ y theo tự nhiên như vậy, không làm gì cả. Còn trường hợp trong Thiền Tông khi dùng từ nầy không có nghĩa là không làm gì cả, mà hết thảy các hành vi đều tự do, tự tại, không trở ngại, giống như cá lội trong nước, chim bay trên không, chẳng lưu lại vết tích nào. Trong Chứng Đạo Ca () của Vĩnh Gia Huyền Giác (, 675-713) có đoạn rằng: “Quân bất kiến, tuyệt học Vô Vi nhàn đạo nhân, bất trừ vọng tưởng bất cầu chân (, bạn có thấy chăng, người nhàn đạo Vô Vi chẳng còn học gì nữa thì chẳng trừ bỏ vọng tưởng mà cũng không tìm cầu cái chân thật).” Thiền Sư Pháp Thuận (, ?-991) của Việt Nam có bài thơ rằng: “Quốc tộ như đằng lạc, Nam Thiên lí thái bình, Vô Vi cư điện các, xứ xứ tức đao binh (殿, vận nước như dây quấn, trời nam trọn thái bình, Vô Vi nơi điện gác, chốn chốn hết đao binh).”