Viên Nhân

《圓仁》 yuán rén

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Ennin, 794-864: vị tổ của Phái Sơn Môn () thuộc Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống dưới Thời Đại Bình An, người vùng Hạ Dã (, Shimotsuke, thuộc Tochigi-ken []), tục danh là Nhâm Sanh (). Lúc lên 9 tuổi, ông theo học với Quảng Trí (, Kōchi), nhưng sau Xuất Gia với Tối Trừng. Sau khi thọ giới lúc 23 tuổi, ông khép mình ẩn tu trong núi suốt 12 năm trường, đến năm 35 tuổi mới đến giảng thuyết về Pháp Hoa ở Pháp Long Tự (, Hōryū-ji), rồi tuyên dương diệu nghĩa của kinh này ở Tứ Thiên Vương Tự (, Shitennō-ji), và tiến hành Bố Giáo ở địa phương phía bắc. Sau đó, ông lại trở về núi, ẩn cư ở vùng Hoành Xuyên (, Yokogawa) mà tu luyện trong vòng 3 năm. Vào lúc 42 tuổi, ông nhận được chiếu chỉ sang nhà Đường cầu pháp, nhưng phải lưu lại Thái Tể Phủ 2 năm; mãi cho đến năm 838 ông mới có thể rời Nhật, sang vùng Dương Châu (, thuộc Tỉnh Giang Tô ngày nay) của Trung Quốc được. Trong thời gian trú tại Khai Nguyên Tự (), ông có học Tất Đàm với Tông Duệ () và Mật Giáo với Toàn Nhã (). Vì không có được sự Hứa Khả cho nhập quốc, nên năm sau ông dự định trở về nước song không được, vì thế ông phải phiêu lãng đến Pháp Hoa Viện () ở Huyện Văn Đăng (), thuộc vùng Đăng Châu (). Sau ông được Tướng Quân Trương Vịnh () giúp cho xin được điệp trạng nhập quốc, và cuối cùng vào năm 840 ông mới bắt đầu đi đến Ngũ Đài Sơn. Giữa đường ông gặp Tiêu Khánh Trung () truyền cho yếu chỉ của Thiền, rồi Chí Viễn ()Huyền Giám () truyềncho diệu chỉ của Chỉ Quán; kế đến ông đến tham bái linh địa của Văn Thù và được truyền thọ Hành Pháp của Niệm Phật TamMuội. Sau ông đến Trường An, học được Kim Cang Giới ở Nguyên Chính () của Đại Hưng Thiện Tự (), Thai Tạng Nghi QuỹPháp Toàn () của Huyền Pháp Tự (), Tất Đàm ở Bảo Nguyệt Tam Tạng (), và Thiên Thai Diệu Nghĩa ở Tông Dĩnh () của Lễ Tuyền Tự (). Sau 10 trường lưu học và cầu pháp ở Trung Quốc, năm 847 ông trở về nước. Bộ Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký () gồm 4 quyển của ông, đã ghi lại tất cả Hành Trạng và những kiến văn của ông trong suốt thời gian 10 năm này. Ông đã mang về nước một số kinh luận sớ gồm 589 bộ và 802 quyển. Năm sau, ông trở về Tỷ Duệ Sơn, nhậm chức Truyền Đăng Đại Pháp Sư và khai sáng nên Pháp Hoa Tổng Trì Viện (), rồi đến năm 854 thì làm Tọa Chủ của Diên Lịch Tự. Đây là chức Tọa Chủ đầu tiên được công xưng. Đệ Tử của ông có những bậc anh tú tài ba như An Huệ (, Anne), Huệ Lượng (, Eryō), Lân Chiêu (, Renshō), Tương Ưng (, Sōō), Biến Chiêu (, Henjō), An Nhiên (, Annen), v.v. Các trước tác của ông để lại cho hậu thế có Kim Cang Đảnh Kinh Sớ () 7 quyển, Tất Địa Kinh Sớ () 7 quyển, Hiển Dương Đại Giới Luận () 8 quyển.