Vân Nghê

《雲霓、雲蜺》 yún ní yún ní

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có hai nghĩa. (1) Cầu vồng. Như trong Mạnh Tử (), Lương Huệ Vương () có câu: “Dân vọng chi, nhược đại hạn chi vọng Vân Nghê(, người dân trông đợi đó, như đại hạn trông đợi cầu vồng vậy).” Triệu Kì (, 108-201), nhà kinh học thời Đông Hán, chú thích rằng: “Nghê, hồng dã, vũ tắc hồng hiện; cố đại hạn nhi tư hiện chi (, nghê là cầu vồng, trời mưa thì cầu vồng hiện; cho nên khi hạn hán lớn thì mong nó hiện ra).” Hay trong Đàm Tân Văn Tập (, Taishō Vol. 52, No. 2115) quyển 17, bài Hạ Nhật Vô Vũ (), lại có đoạn: “Sơn trung khổ vô vũ, nhật nhật vọng Vân Nghê, tiểu thử phục đại thử, thâm khê thành thiển khê (, trong núi không mưa khổ, ngày ngày ngóng cầu vồng, nắng nhỏ lại nắng lớn, khe sâu thành khe cạn).” (2) Mượn chỉ bầu trời cao. Như trong bài thơ Vọng Cửu Hoa Sơn () của Sài Quỳ (, ?-?) nhà Đường có câu: “Cửu Hoa như kiếm sáp Vân Nghê, thanh ái liên không vọng dục mê (, Cửu Hoa như kiếm cắm trời cao, xanh khí trên không ngắm muốn say).”