U Đồ

《幽途》 yōu tú

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: con đường tối tăm, u ám, chỉ ba đường ác Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh Luân Hồi trong Sáu Đường. Trong bài Hòa Lang Gia Vương Y Cổ Thi () có câu: “Trọng Thu biên phong khởi, cô bồng quyến sương căn, bạch nhật vô tinh cảnh, hoàng sa thiên lí hôn, hiển quỹ mạc thù triệt, u đồ khởi dị hồn, thánh hiền lương dĩ hỉ, bão mạng phục hà oan (, Giữa Thu gió xa dậy, bèo đơn góp hơi sương, ngày sáng không cảnh sắc, cát vàng muôn dặm buông, xe lăn nào thấy dấu, lối mờ buốt lạnh hồn, thánh hiền xưa nay vậy, giữ mạng lấy gì oan ?).” Hơn nữa, trong Tông Kính Lục () cũng có đoạn rằng: “Lục Cảnh chi nội, phi Niết Bàn chi trạch cố, tá xuất dĩ khư chi nhĩ, thứ hi đạo chi lưu, phảng phất u đồ, thác tình tuyệt vức, đắc ý Vong Ngôn (彿, Trong sáu cảnh ấy, vì không phải là nhà của Niết Bàn, bèn mượn để đuổi ra khỏi đó vậy, những hạng người cầu đạo, phảng phất chốn u đồ, phó tình chốn tuyệt vọng, được ý rồi quên lời).”