Tử Vi Đẩu Số

《紫微斗數》 zǐ wēi dòu shù

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

có 2 loại pháp tắc là Đại Hạn () và Tiểu Hạn (). Đại Hạn chỉ về trạng huống, vận thế của cá nhân trong khoảng thời gian 10 năm âm lịch. Tiểu Hạn là trạng huống, vận thế của cá nhân trong khoảng thời gian 1 năm âm lịch. Vận trình của 1 năm được gọi là Lưu Niên (). Sự lành dữ của Lưu Niên là căn cứ chủ yếu vào cung vị do Lưu Niên Thái Tuế () lâm vào. Tỷ dụ như tuổi Tân Tỵ () thì Lưu Niên Thái Tuế của tuổi này là ở tại Tỵ và Lưu Niên Cung Mạng () tại cung Tỵ. Y cứ vào Lưu Niên mà sao biến hóa có tên là Lưu Diệu (); như Lưu Lộc (祿), Lưu Mã (), Lưu Khôi (), Lưu Việt (), Lưu Xương (), Lưu Khúc (), Lưu Dương (), Lưu Đà (), Lưu Hóa Lộc (祿), Lưu Hóa Quyền (), Lưu Hóa Khoa (), Lưu Hóa Kỵ (), v.v. Đại Hạn còn có cách gọi khác của cái chết, vận đến; như “Đại hạn vu Bính Tuất niên, thất nguyệt, nhị thập cửu nhật, Thân bài mạng chung (, mất vào lúc giờ Thân, ngày 29 tháng 7 năm Bính Tuất).” Như trong Dụ Thế Minh Ngôn () có câu: “Phụ mẫu ân thâm chung hữu biệt, phu thê nghĩa trọng dã phân ly, nhân sanh tợ điểu đồng lâm túc, đại hạn lai thời các tự phi (宿, cha mẹ ơn sâu còn ly biệt, vợ chồng nghĩa trọng cũng rời tay, Nhân Sinh như chim cùng rừng trú, đại hạn đến thời mỗi tự bay).” Thay vì từ Đại Hạn này, đối với trường hợp người trẻ tuổi mất sớm thì có thể dùng từ “tử ư (, chết vào lúc)” hay “tốt vu (, chết vào lúc)”, v.v. Đối với trường hợp là Phật tử, có thể dùng từ “Vãng Sanh ư (, Vãng Sanh vào lúc).”