Tử Kim Đài

《紫金臺》 zǐ jīn tái

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: đài bằng vàng tía, vàng ròng. Từ này có xuất hiện trong Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh (, Taishō No. 365): “A Di Đà Phật dữ Quán Thế Âm cập Đại Thế Chí, vô lượng đại chúng Quyến Thuộc vi nhiễu, trì Tử Kim Đài chí Hành Giả tiền ngôn: 'Pháp Tử, nhữ hành Đại Thừa giải đệ nhất nghĩa, thị cố ngã kim lai Nghênh Tiếp nhữ', dữ thiên hóa Phật Nhất Thời thọ thủ; Hành Giả tự kiến tọa Tử Kim Đài, hiệp chưởng xoa thủ tán hoan chư Phật, như nhất niệm khoảnh, tức sanh bỉ quốc Thất Bảo trì trung (, A Di Đà Phật cùng với Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, vô lượng đại chúng Quyến Thuộc vây quanh, mang Đài Vàng Tía đến trước mặt Hành Giả nói rằng: 'Này Pháp Tử ! Ngươi thực hành Đại Thừa, hiểu nghĩa thứ nhất, cho nên nay ta đến tiếp rước ngươi', rồi cùng với hàng ngàn đức Phật hóa hiện đồng thời đưa tay ra; Hành Giả tự thấy mình ngồi trên Đài Vàng Tía, chấp tay xoa tay Tán Thán các đức Phật, như trong khoảnh khắc một niệm, tức sanh vào trong hồ có bảy thứ báu của nước kia).” Tương truyền thi sĩ Tô Đông Pha () có làm một bài thơ thể hiện chỗ sở ngộ của ông và trình lên cho Thiền Sư Phật Ấn () xem, trong đó có hai câu rằng: “Bát Phong xuy Bất Động, đoan tọa Tử Kim Đài (, Tám Gió thổi chẳng động, ngồi yên Vàng Tía Đài).” Những tưởng Thiền Sư sẽ khen ngợi bài thơ hay của mình, ai ngờ khi nhận lại bài thơ, Đông Pha thấy có hai chữ “Phóng thí (, đánh rấm)” phê trên đó. Thật quá bực mình, ông tức khắc lên thuyền qua sông, đến chỗ Thiền Sư Phật Ấn để hỏi cho ra duyên cớ. Tuy nhiên, ông đã thấy Thiền Sư đang đứng bên bờ sông đợi mình. Đến nơi, ông hỏi ngay hai chữ ấy có ngụ ý như thế nào. Phật Ấn cười nói rằng: “Đã gọi là Tám Gió thổi chẳng động mà sao mới có một tiếng đánh rấm thôi đã thổi ông qua tận đây rồi à ? Thế thì phải đổi lại là 'Bát Phong xuy Bất Động, nhất thí quá Giang Đông (, Tám Gió thổi chẳng động, tiếng rấm qua Giang Đông)' mới được.” Đông Pha nghe lời này thì hoát nhiên đại ngộ.