Trường Giác

《長覺》 zhǎng jué

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Chōkaku, 1340-1416: vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, vị Tổ của Thọ Môn Học Phái () thuộc Cao Dã Sơn, húy là Trường Giác (), tên lúc nhỏ là Phạm Thiên Hoàn (), tự là Bổn Trí Phòng (); xuất thân vùng Xuất Vũ (, Dewa), con của An Đạt Thời Trọng (). Năm 1352, ông theo Xuất Gia với Trường Tuyên () ở vùng Xuất Vũ, rồi đến năm 1356 thì theo Nhập Chúng ở Đông Thiền Viện () trên Cao Dã Sơn; học Tất Đàm với Nghĩa Tuyên (), cũng như giáo nghĩa của các dòng phái khác như Dòng Trung Viện với Lại Viên (), Dòng Quảng Trạch với Tuyên Hựu (), v.v. Sau đó, ông còn học cả Thiền, Thần Đạo và kế thừa Dòng Tây Viện từ Tuấn Dự () ở Vô Lượng Thọ Viện () của vùng Liêm Thương. Vào năm 1403, ông làm Thủ Tòa của Vô Lượng Thọ Viện, hình thành nên Thọ Môn Học Phái (tức Bất Nhị Môn Phái []), cùng sánh đôi với Bảo Môn Học Phái (, tức Nhi Nhị Môn Phái []) của Hựu Khoái () ở Bảo Tánh Viện (). Như vậy, lúc bấy giờ tăng lữ trong Sơn Môn phân chia thành hai phái rõ rệt, và chính ông đã tạo nên một thời kỳ hưng thịnh tột độ cho Cao Dã Sơn. Tương truyền ông là Phân Thân của Không Hải Đại Sư. Đệ Tử phú pháp của ông có Trường Dự (), Trường Nhiệm (), Thắng Nghĩa (), v.v. Trước tác của ông lưu lại cho hậu thế có Đại Sớ Chỉ Nam Sao () 9 quyển, Thích Luận Thập Nhị Sao Tư Ký () 10 quyển, Tất Đàm Quyết Trạch Sao () 5 quyển, Tất Đàm Tự Ký Sao () 5 quyển, Phàm Thánh Lục Đại Nguyên Sự (), v.v.