Trí Cảnh
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: trí và cảnh. Trí (chủ thể) là Tâm Quán sát, cảnh (khách thể) là pháp đối với tâm. Khi mê thì trí và cảnh còn là hai đối tượng khác nhau; nhưng khi giác ngộ thì cả hai là một, không khác, không hai. Cho nên “Ngộ Không trung Chi Diệu lý, Trí Cảnh Nhất Như (悟空中之妙理、智境一如)” có nghĩa là khi đã ngộ được lý nhiệm mầu của Không thì hai đối tượng trí và cảnh là một, không hề khác nhau, tương quan tương duyên, tương tức tương nhập. Trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Giải (妙法蓮華經解) quyển 1 có câu: “Lục Chấn hám Vô Minh chi chướng duyên, nhất quang hiện Trí Cảnh chi Thật Tướng (六震撼無明之障緣、一光現智境之實相, sáu chấn rung chuyển chướng duyên Vô Minh, một ánh sáng hiện Thật Tướng Trí Cảnh).” Hay trong Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Chánh Mạch Sớ (大佛頂首楞嚴經正脈疏) quyển 9 cũng có đoạn: “Phàm Phu sở chấp Ngã Tướng, thị mê thức cảnh; quyền thánh sở chấp Ngã Tướng, thị mê Trí Cảnh, tuy thô tế bất đồng, giai danh nhận vật vi kỷ (凡夫所執我相、是迷識境、權聖所執我相、是迷智境、雖麤細不同、皆名認物爲己, người Phàm Phu chấp vào Ngã Tướng, đó là mê thức cảnh; bậc thánh chấp vào Ngã Tướng, đó là mê Trí Cảnh; tuy thô tế chẳng giống nhau, nhưng đều gọi là nhận lầm vật cho là mình).”