Trệ Phách

《滞魄》 zhì pò

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: xưa kia chỉ cho những hồn phách sống lang thang không nơi nương tựa. Như trong Thái Thượng Vô Cực Tổng Chơn Văn Xương Đại Động Tiên Kinh () quyển 1 có đoạn: “Hoặc hữu trầm hồn Trệ Phách, bất đắc Vãng Sanh giả, thác mộng phụ hình lai cầu (, Hoặc có trầm hồn Trệ Phách, không được Vãng Sanh, báo mộng hiện hình đến cầu xin).” Hay trong Cát Tiên Công Truyện () của Lịch Thế Chơn Tiên Thể Đạo Thông Giám () quyển 23 có ghi rằng: “Tam Quốc tranh lạo hung hoang, binh thương Biểu Tử, cùng hồn Trệ Phách, Trầm Luân Ác Thú, nan xuất Luân Hồi (, Tam Quốc tranh giành, mưa lụt hung dữ làm tan hoang, binh lính bị thương chết đói, hồn cùng đường, phách lang thang, trôi lăn trong đường ác, khó ra khỏi vòng Luân Hồi).” Ngay trong bài văn thỉnh 12 loại Cô Hồn thường được dùng trong nghi thức Chẩn Tế Cô Hồn của Phật Giáo, tương truyền do thi hào Tô Đông Pha (, 1036-1101) soạn, câu thỉnh thứ 7 cũng có đề cập đến loại Trệ Phách này: “Nhất Tâm triệu thỉnh: Giang hồ cơ lữ, nam bắc kinh thương, đồ tài vạn lí Du Hành, tích hóa thiên kim mậu dịch; phong sương bất trắc, thân cao ngư phục chi trung, đồ lộ nan phòng, mạng táng dương trường chi hiểm; ô hô, Trệ Phách bắc tùy vân ám ám, khách hồn đông trục thủy du du; Như Thị tha hương khách lữ chi lưu, nhất loại Cô Hồn đẳng chúng (貿, Một lòng triệu thỉnh: Sông hồ hành lữ, nam bắc bán buôn, cầu tài vạn dặm Du Hành, tích của ngàn vàng mậu dịch; gió sương bất trắc, thân vào bụng cá ở trong, đường sá khó phòng, mạng táng ruột dê nạn hiểm; than ôi, Trệ Phách Bắc theo mây u ám, khách hồn Đông chảy nước lững lờ; như vậy tha hương khách lữ hạng người, một loại Cô Hồn các chúng).”