Tính Thật
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chủ trương tự tính nhất định có thực. Tông Tam Luận thường dùng từ ngữ này. Tức là đối với Nhân Duyên giả danh mà chấp trước thật có Sinh Diệt. Các pháp do Nhân Duyên sinh, không có tự tính, Đương Thể Tức Không, cho nên đối với Thế đế chỉ có giả danh mà thôi. Nhưng vì Ngoại Đạo, Phàm Phu không rõ biết được chân tướng của các pháp, nên cho rằng các Pháp Thực có tự tính Sinh Diệt. Trong Trung quán luận sớ quyển 2, phần đầu, ngài Giatường thuộc tông Tam Luận cho rằng (Đại 42, 23 thượng): Thứ nhất, Thế Gian chỉ căn cứ vào điều mắt thấy tai nghe mà chấp là thật, như đất nước hòa hợp thì vật bên ngoài sinh, cha mẹ hòa hợp thì pháp bên trong khởi, vì Quyết Định cho là thật có pháp trong, ngoài sinh ra nên gọi là Tính thực. Thứ hai, Ngoại Đạo chấp trước vô nhân tà nhân, nhất định có sinh, cũng gọi là Tính thực. Thứ ba, hàng Tiểu Thừa chấp trước vị lai nhất định có tính sinh, từ vị lai khởi tiếp đến hiện tại, cho nên gọi là Sinh, cũng là Tính thực. Thứ tư, người học Đại Thừa có sở đắc, tuy nói các pháp là giả, nhưng Quyết Định có sinh được sinh, vì sinh chẳng do diệt mà sinh nên sinh trở thành tự tính. Đây là sự Sinh Diệt của 4 thứ Tính thực do ngài Gia tường chủ trương. Dùng Không để diệt trừ sự chấp trước về Tính thực, gọi là Tính không. Tính không lại được chia làm 2 thứ là Bản tính không và Phá tính không. Bản tính không, tức tính này từ xưa đến nay vốn rỗng lặng, chẳng phải do phá chấp mới có, nên gọi là Bản tính không. Còn Phá tính không là dùng Tuệ quán suy xét đến cùng cực, mới biết rõ tính của các pháp rốt cuộc là lí không Bất Khả Đắc, cho nên gọi là Phá tính không. [X. Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú Q. trung].