Tinh Củng Bắc
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: sao chầu hướng Bắc. Nguyên văn của nó là “chúng Tinh Củng Bắc (眾星拱北)”, xưa kia được dùng chỉ cho vị minh quân (vua) có đức độ, được tất cả thần dân trong thiên hạ ủng hộ. Nó vốn xuất xứ từ chương Vi Chính (爲政) của Luận Ngữ (論語): “Vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi (爲致以德、譬如北辰、居其所而眾星共之, làm chính trị phải dùng đức, giống như sao Bắc, tuy ở tại chỗ của nó mà các sao khác đều hướng về).” Trong tác phẩm Lệ Xuân Đường (麗春堂) của Vương Thật Phủ (王實甫, 1260-1336) nhà Nguyên cũng có câu: “Cáp tiện tợ chúng Tinh Củng Bắc, vạn thủy triều Đông (恰便似眾星拱北、萬水朝東, cũng giống như các ngôi sao chầu hướng Bắc, vạn sông đều đỗ về hướng Đông).” Câu “ngưỡng khán đẩu tinh Tinh Củng Bắc, hồi đầu vọng nguyệt nguyệt khuynh Tây (仰看斗星星拱北、回頭望月月傾西)” ở trên có nghĩa là ngẩng đầu lên nhìn các vì sao thì sao đều chầu về phương Bắc, quay đầu ngắm trăng thì trăng đã ngã về hướng Tây rồi. Có nghĩa rằng khi mất mẹ là mất hết tất cả; vạn sự vạn vật trên cõi đời đều xa vời, trống vắng, không còn giá trị đối với người con mất mẹ.