Tiểu Thừa Tứ Môn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Bốn Pháp Môn của Tiểu Thừa do tông Thiên thai phân lập. Đó là:
1. Hữu Môn: Tức như Tì đàm chủ trương quán Hữu (có) của Nhân Duyên Sinh Diệt, phá trừ 16 cái thấy biết sai lầm để thấy rõ lí Thiên Chân mà Đắc Đạo.
2. Không Môn: Tức như luận Thành thực chủ trương dùng pháp Nhân Duyên Sinh Diệt giả thực vào không, phá trừ hoặc giả thực để thấy rõ lí không mà Đắc Đạo.
3. Diệc Hữu Diệc Không Môn: Tức như luận Côn lặc chủ trương quán Nhân Duyên Sinh Diệt cũng có cũng không(diệc hữu diệc vô) để phá trừ sự Thiên Chấp hữu, không tương đối mà thể nhậpĐệ nhất Nghĩa Đế.
4. Phi Hữu Phi Không môn: Tức như kinh Ca chiên diên hoặc pháp tu tập của Xa nặc chủ trương quán Nhân Duyên Sinh Diệt chẳng phải có chẳng phải không(Phi Hữu Phi Không) để phá trừ Tà Chấp hữu, không đối lập nhau mà Phát Khởi Chân Trí vô lậu.
1. Hữu Môn: Tức như Tì đàm chủ trương quán Hữu (có) của Nhân Duyên Sinh Diệt, phá trừ 16 cái thấy biết sai lầm để thấy rõ lí Thiên Chân mà Đắc Đạo.
2. Không Môn: Tức như luận Thành thực chủ trương dùng pháp Nhân Duyên Sinh Diệt giả thực vào không, phá trừ hoặc giả thực để thấy rõ lí không mà Đắc Đạo.
3. Diệc Hữu Diệc Không Môn: Tức như luận Côn lặc chủ trương quán Nhân Duyên Sinh Diệt cũng có cũng không(diệc hữu diệc vô) để phá trừ sự Thiên Chấp hữu, không tương đối mà thể nhậpĐệ nhất Nghĩa Đế.
4. Phi Hữu Phi Không môn: Tức như kinh Ca chiên diên hoặc pháp tu tập của Xa nặc chủ trương quán Nhân Duyên Sinh Diệt chẳng phải có chẳng phải không(Phi Hữu Phi Không) để phá trừ Tà Chấp hữu, không đối lập nhau mà Phát Khởi Chân Trí vô lậu.