Tích Không Quán

《析空觀》 xī kōng guān

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Tích sắc nhập Không Quán, Tích giả nhập Không Quán, Tích pháp nhập Không Quán, Sinh Diệt Quán, Chuyết Độ quán, Tích pháp quán. Đối lại: Thể Không Quán. Chỉ cho pháp quán phân tích các pháp để vào không. Tức phân tích những yếu tố cấu thành thân người như 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới... và chia chẻ các Sắc Pháp đến cực vi (đơn vị nhỏ nhất cấu thành vật chất); hoặc phân tích Tâm Pháp đến 1 niệm (60 Sát Na), rồi dựa theo kết quả của sự phân tích này mà quán xét lí Nhân không, Pháp Không. Đây là pháp quán Không của Tiểu Thừa. Còn Thể Không Quán(cũng gọi Thể giả nhập Không Quán, Thể Pháp nhập Không Quán, Thể Pháp quán, Xảo độ quán, gọi đủ là Thể sắc nhập Không Quán) thì chẳng nhờ vào kết quả phân tích, mà ngay nơi tự thân các pháp thấu suốt lí Bản Lai Không, như Mộng Huyễn; tức các pháp tuy có đó nhưng thực chất là không. Đây là pháp quán Không của Đại Thừa. Theo phán giáo của tông Thiên thai, trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên thì Tam Tạng Giáo thực hành Tích Không Quán; còn Thông Giáo thì thực hành Thể Không Quán. [X. luận Thành thực Q. 12.; phẩm Vô Sai Biệt trong luận Phật Tính Q. 4.; Duy Ma Kinh Huyền Sớ Q. 2.; Trung Luận sớ kí Q. 1., phần cuối; Ma Ha Chỉ Quán Q. 3., hạ]. (xt. Đãn Không, Thể Không Quán).