Thủy Giáo
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Phần giáo, Sinh giáo,Quyền giáo. Chỉ cho Đại Thừa Thủy Giáo, hàm ý là cửa đầu tiên của Đại Thừa, là giáo thứ 2 trong 5 giáo(Tiểu Thừa giáo, Đại Thừa Thủy Giáo, Đại Thừa Chung Giáo, Đốn Giáo, Viên giáo) theo Giáo Phán của tông Hoa nghiêm. Giáo này được chia làm Không Môn và Tướng môn, đó là:
1. Không Thủy Giáo: Diệt trừ chấp trước Hữu Sở Đắc(có cái để được), nói tất cả đều không, tương đương với giáo nghĩa của tông Tam Luận.
2. Tướng Thủy Giáo: Phân Biệt rộng về Tính Tướng của các pháp, dùng tính chất không dung hợp giữa sự và lí để nói về 5 tính khác nhau, tương đương với giáo nghĩa của Tông Pháp tướng. Tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm tùy theo Không Môn và Tướng môn này để giải thích rõ về Thủy Giáo và lập ra Thủy Giáo để dung hợp thời giáo thứ 2 và thời giáo thứ 3 của kinh Giải thâm mật. Cứ theo Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí quyển 1 thì giáo pháp thuộc thời giáo thứ 2 và thời giáo thứ 3 nói trong kinh Giải thâm mật đều hiển bày giáo nghĩa của Thủy Giáo. Nhưng theo Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương quyển 1 thì giáo nghĩa thuộc thời giáo thứ 2 là hiển bày giáo nghĩa của Thủy Giáo, còn giáo nghĩa thuộc thời giáo thứ 3 thì hiển bày giáo nghĩa của Chung Giáo. Bởi vì giáo nghĩa thuộc thời giáo thứ 2 ấy bàn rõ về Nghĩa Không, Không là cửa đầu tiên của Đại Thừa, còn thời giáo thứ 3 tuy không nói về Nghĩa Không nhưng lại khẳng định thuyết Tam Thừa, chứ không bàn về Nhất Cực, cho nên đều gọi là Sơ giáo. Lại vì thời giáo thứ 2 và thời giáo thứ 3 đều không chấp nhận Định Tính Nhị Thừa Thành Phật,nên cũng gọi là Phần giáo. So sánh Thủy Giáo của tông Hoa nghiêm và Thông Giáo trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên của tông Thiên Thai thì cả 2 đều y cứ vào Bát Nhã mà nói Tam Thừa thông nhập. Có khác nhau là ở chỗ:
1. Thông Giáo nói 6 thức, Thủy Giáo nói 8 thức.
2. Thông Giáo chủ trương Tam Thừa cộng Thập Địa, Thủy Giáo nói Thập Địa Bất Cộng.
3. Thủy Giáo bàn rõ về Thủy môn, Chung môn, cũng bàn về sự Sai Biệt giữa các pháp tướng, Hồi Tâm và thẳng tiến, sự biến đổi ngoài 3 cõi, quả Phật Thường Trụ... còn Thông Giáo thì không nói đến nghĩa lí này. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông).
1. Không Thủy Giáo: Diệt trừ chấp trước Hữu Sở Đắc(có cái để được), nói tất cả đều không, tương đương với giáo nghĩa của tông Tam Luận.
2. Tướng Thủy Giáo: Phân Biệt rộng về Tính Tướng của các pháp, dùng tính chất không dung hợp giữa sự và lí để nói về 5 tính khác nhau, tương đương với giáo nghĩa của Tông Pháp tướng. Tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm tùy theo Không Môn và Tướng môn này để giải thích rõ về Thủy Giáo và lập ra Thủy Giáo để dung hợp thời giáo thứ 2 và thời giáo thứ 3 của kinh Giải thâm mật. Cứ theo Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí quyển 1 thì giáo pháp thuộc thời giáo thứ 2 và thời giáo thứ 3 nói trong kinh Giải thâm mật đều hiển bày giáo nghĩa của Thủy Giáo. Nhưng theo Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương quyển 1 thì giáo nghĩa thuộc thời giáo thứ 2 là hiển bày giáo nghĩa của Thủy Giáo, còn giáo nghĩa thuộc thời giáo thứ 3 thì hiển bày giáo nghĩa của Chung Giáo. Bởi vì giáo nghĩa thuộc thời giáo thứ 2 ấy bàn rõ về Nghĩa Không, Không là cửa đầu tiên của Đại Thừa, còn thời giáo thứ 3 tuy không nói về Nghĩa Không nhưng lại khẳng định thuyết Tam Thừa, chứ không bàn về Nhất Cực, cho nên đều gọi là Sơ giáo. Lại vì thời giáo thứ 2 và thời giáo thứ 3 đều không chấp nhận Định Tính Nhị Thừa Thành Phật,nên cũng gọi là Phần giáo. So sánh Thủy Giáo của tông Hoa nghiêm và Thông Giáo trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên của tông Thiên Thai thì cả 2 đều y cứ vào Bát Nhã mà nói Tam Thừa thông nhập. Có khác nhau là ở chỗ:
1. Thông Giáo nói 6 thức, Thủy Giáo nói 8 thức.
2. Thông Giáo chủ trương Tam Thừa cộng Thập Địa, Thủy Giáo nói Thập Địa Bất Cộng.
3. Thủy Giáo bàn rõ về Thủy môn, Chung môn, cũng bàn về sự Sai Biệt giữa các pháp tướng, Hồi Tâm và thẳng tiến, sự biến đổi ngoài 3 cõi, quả Phật Thường Trụ... còn Thông Giáo thì không nói đến nghĩa lí này. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông).