Thống Xứ Chùy
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: mũi chùy đâm vào chỗ đau. Cụm từ nầy thỉnh thoảng thấy có xuất hiện trong các ngữ lục Thiền xưa nay như Đại Ứng Lục (大應錄), Hư Đường Lục (虛堂錄), Bảo Lâm Ngữ Lục (寳林語錄). Đại Đăng Quốc Sư (大燈國師) cũng có dùng nhiều cụm từ nầy trong bộ Bích Nham Lục (碧巖錄) của mình. Như trong tác phẩm Cuồng Vân Tập (狂雲集, Kyōunshū) của Nhất Hưu Tông Thuần (一休宗純, Ikkyū Sōjun, 1394-1481) có câu: “Từ Minh hiệp lộ đắc Dương Kì, địch diện chi cơ Thống Xứ Chùy, Thiên Trạch sầu ngâm phong nguyệt khách, tú liêm xuy động nhuyễn phong bài (慈明狹路得楊岐、覿面之機痛處錐、天澤愁吟風月客、繡簾吹動軟風扉, Từ Minh ngõ hẹp gặp Dương Kì, Căn Cơ xáp mặt đau mũi chùy, Thiên Trạch buồn ngâm trăng gió khách, rèm thưa thổi động cửa gió lay).” Hay trong (林間錄, CBETA, No. 1624) cũng có câu: “Lương ôn viễn cận chuyển tăng nghi, bất đáp đương cừ Thống Xứ Chùy, thượng trục tiểu nhi tranh vị dĩ, Trọng Ni hà độc cổ nan tri (涼溫遠近轉增疑、不答當渠痛處錐、尚逐小兒爭未已、仲尼何獨古難知, gần xa tươi mát càng thêm nghi, chẳng đáp phải chịu đau mũi chùy, lại đuổi lũ nhóc tranh giành mãi, Trọng Ni xưa mãi chẳng hay gì).”