Thiên Thai Tông

《天台宗》 tiān tái zōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Tendai-shū: tên gọi của một trong 13 Tông Phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc, học phái lấy Thiên Thai Trí Giả Đại Sư Trí Khải (, 538-597) của Trung Quốc làm vị Cao Tổ, lấy Truyền Giáo Đại Sư Tối Trừng (, Saichō, 767-822) của Nhật làm Tông Tổ. Tông này còn được gọi là Pháp Hoa Viên Tông () hay Thiên Thai Pháp Hoa Tông (). Chính Vị Tổ Sư của tông này là Trí Khải đã từng sống ở núi Thiên Thai, nên lấy tên núi này đặt tên cho Tông Phái của mình. Tông này dựa trên Tông Chỉ của Pháp Hoa Kinh, lấy Ngũ Thời Bát Giáo () làm giáo tướng, rồi lấy Thập Thừa Quán Pháp (), Nhất Niệm Tam Thiên (), Thập Giới Hỗ Cụ (), Chư Pháp Thật Tướng () làm Quán Tâm mà tu tập. Ở Trung Quốc,trước thời Trí Khải có Huệ Văn () và Huệ Tư (), sau này Trí Khải đã để lại rất nhiều trước tác như Tam Đại Bộ Pháp Hoa Huyền Nghĩa (), Pháp Hoa Văn Cú(), Ma Ha Chỉ Quán (),v.v. Tiếp theo đó trải qua các đời của Quán Đảnh (), Trí Uy (), Huệ Uy ( ), Huyền Lãng (), cho đến Lục Tổ Kinh Khê Trạm Nhiên () đã tiến hành chú thích rất nhiều Kinh Điển và làm cho tông này hưng thịnh tột độ. Đến dưới thời vị tổ thứ 12 là Thanh Tủng () có hai nhân vật Nghĩa Tịch () và Chí Nhân (); từ đó tông này chia thành 2 phái là Sơn Gia () và Sơn Ngoại (). Phái Sơn Gia có Trí Lễ () xuất hiện và đã Nỗ Lực phục hưng Tông Phong. Đối với trường hợp Nhật Bản thì cả 3 bộ kinh luận của Thiên Thai Đại Sư đều được truyền vào nhưng không phát triển cho mấy; sau này Truyền Giáo Đại Sư Tối Trừng mới học giáo lý này, sang nhà Đường cầu pháp và trực tiếp được chân truyền, vì thế ông được xem như là vị tổ khai sáng ra Thiên Thai Tông Nhật Bản. Đối với Thiên Thai Tông của Nhật, ngoài Thiên Thai Viên Giáo ra còn có sự hợp nhất của Thiền pháp, Viên Đốn Giới, và Mật Giáo nữa. Đây chính là đặc thù nỗi bật nhất của Thiên Thai Tông Nhật Bản, khác với Thiên Thai Tông của Trung Quốc. Đặc biệt từ sau thời của Từ Giác Đại Sư Viên Nhân () và Trí Chứng Đại Sư Viên Trân () thì yếu tố mang tính Mật Giáolại càng mạnh thêm. Tuy nhiên, về sau Phái Sơn Môn () của Từ Giác () lấy trung tâm là Diên Lịch Tự (, Enryaku-ji) trên Tỷ Duệ Sơn, còn Phái Tự Môn () của Trí Chứng () lấy Viên Thành Tự (, Onjō-ji) làm trung tâm, bắt đầu phân liệt và tranh giành nhau thế lực. Bên cạnh đó lại xuất hiện Thiên Thai Luật Tông () của Phái Chơn Thạnh (), bắt đầu tách riêng ra khỏi Sơn Môn vào cuối thế kỷ thứ
15. Chính Đạo Nguyên (, Dōgen), Vinh Tây (西, Eisai), v.v., Tổ Sư khai sáng các Tông Phái Thiền của Nhật sau này, cũng đã từng Xuất Gia theo Thiên Thai Tông, và cũng từ đây mà chuyển hướng sang Thiền. Sau khi vị Tông Tổ qua đời, nội bộ mâu thuẩn nhau và các dòng phái phân chia rõ rệt. Trong đó, có ba dòng căn bản nhất của Thai Mật là Dòng Căn Bản Đại Sư (), Dòng Từ Giác Đại Sư () và Dòng Trí Chứng Đại Sư (). Trong ba dòng trên thì dòng của Từ Giác Đại Sư là dòng hưng thạnh nhất, rồi từ hai dòng nầy lại xuất hiện ra hai nhân vật nổi tiếng là Hoàng Khánh () ở Đông Tháp Nam Cốc và Giác Siêu () ở Hoành Xuyên (). Sau nầy, hai vị nầy lại phân chia thành hai dòng khác gọi là Dòng Cốc () và Dòng Xuyên (). rồi từ hai dòng nầy, lại phân chia thành 13 chi nhánh nhỏ khác, gọi chung là 13 dòng Thai Mật. Đồng thời với sự phân phái mạnh mẽ của Thiên Thai Mật Giáo thì Thiên Thai Viên Giáo vốn lấy giáo học của vị Tông Tổ làm trung tâm đã phát triển rõ rệt. Khởi đầu là hai vị môn hạ tuyệt bích của Từ Huệ Đại Sư Lương Nguyên () là Huệ Tâm Viện Nguyên Tín () và Đàn Na Viện Giác Vận (). Họ lấy tên mình đặt cho hai dòng phái là Dòng Huệ Tâm và Đàn Na. Hai dòng nầy lại phân chia thành 8 dòng khác, gọi là Huệ Đàn Bát Lưu (). Theo Bản Tôn Giáo Niên Giám (, năm 1997) của Bộ Văn Hóa Nhật Bản, hiện tại trong hệ Thiên Thai có các tông phái như sau: (1) Thiên Thai Tông (, 3,349 ngôi chùa), (2) Thiên Thai Tự Môn Tông (, 235 ngôi chùa), (3) Thiên Thai Chơn Thạnh Tông (, 426 ngôi chùa), (4) Bổn Sơn Tu Nghiệm Tông (, 218 ngôi chùa), (5) Kim Phong Sơn Tu Nghiệm Bổn Tông (, 211 ngôi chùa), (6) Hòa Tông (, 29 ngôi chùa), (7) Phấn Hà Quan Âm Tông (, 5 ngôi chùa), (8) Vũ Hắc Sơn Tu Nghiệm Bổn Tông (, 23 ngôi chùa), (9) Thánh Quan Âm Tông (, 26 ngôi chùa). Một số ngôi chùa trung tâm nổi tiếng của tông này là Diên Lịch Tự (, Enryaku-ji, Shiga-ken), Trung Tôn Tự (, Chūson-ji, Iwate-ken), Luân Vương Tự (, Rinnō-ji, Tōchigi-ken), Khoan Vĩnh Tự (, Kanei-ji, Tōkyō-to), Thiện Quang Tự (, Zenkō-ji, Nagano-ken), Tư Hạ Viện (, Shiga-in), Diệu Pháp Viện (, Myōhō-in, Kyōto-shi), Tam Thiên Viện (, Sanzen-in, Kyōto-shi), Thanh Liên Viện (, Shōren-in, Kyōto-shi), Mạn Thù Viện (, Manshu-in, Kyōto-shi), Tỳ Sa Môn Đường (, Bishamon-dō, ), Mao Việt Tự (, Mōtsū-ji, Iwate-ken), Thâm Đại Tự (, Jindai-ji, Tōkyō-to), Quang Tiền Tự (, Kōzen-ji, Nagano-ken), Thủy Gian Tự (, Mizuma-dera, Ōsaka-fu), (, Engyō-ji, Hyōgo-ken), v.v.