Thiên Giới Tự

《天界寺》 tiān jiè sì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Tenkai-ji: hiện tọa lạc tại phía Nam Kim Lăng (, Nam Kinh), Phủ Giang Ninh (, Tỉnh Giang Tô), trên núi Phụng Sơn (), tên cũ là Long Tường Tập Khánh Tự (), còn gọi là Đại Long Tường (), một trong những Danh Lam của Trung Quốc. Vào năm đầu (1328) niên hiệu Thiên Lịch (), vua Văn Tông nhà Nguyên bỏ ly cung của mình ở phía bắc Cầu Đại Thị () trong Thành Kim Lăng () và biến nơi đây thành chùa; năm sau nhà vua cung thỉnh Tiếu Ẩn Đại Hân () ở Trung Thiên Trúc Tự (), Hàng Châu () đến làm tổ Khai Sơn chùa này. Đến năm thứ 9 (1349) niên hiệu Chí Chánh (), Phù Trung Hoài Tín () đến trú tại đây và làm cho chùa hưng thịnh. Vào năm thứ 17 (1357) cùng niên hiệu trên, Giác Nguyên Huệ Đàm () đến trú trì và theo sắc chỉ chùa được đổi tên thành Đại Thiên Giới Tự (). Đến tháng 3 năm đầu (1368) niên hiệu Hồng Võ () đời vua Thái Tổ nhà Minh, nhà vua cho kiến lập Thiện Thế Viện () trong khuôn viên chùa, cử Huệ Đàm trú trì nơi đây và quản lý toàn thể Phật Giáo. Cũng vào lúc này, chùa được đổi tên thành Thiên Giới Thiện Thế Thiền Tự () và xếp lên trên cả hệ thống Ngũ Sơn. Nam Thiền Tự (, Nanzen-ji) của Nhật Bản do Quy Sơn Pháp Hoàng () kiến lập được liệt trên Ngũ Sơn cũng bắt chước theo trường hợp này. Vào năm thứ 21 (1388) cùng niên hiệu trên, chùa bị lửa thiêu cháy tan tành nên được dời về vị trí hiện tại; đến năm thứ 23 (1390), chùa được trùng tu lại và có tên là Thiên Giới Thiện Thế Thiền Viện (). Sau đó, vào năm thứ 30 (1397) niên hiệu Hồng Võ, Thứu Phong Đạo Thành () đến trú trì chùa; ngoài ra, trong khoảng thời gian niên hiệu Sùng Trinh (, 1628-1644), Vô Dị Nguyên Lai () cũng như Giác Lãng Đạo Thạnh () thay nhau làm trú trì và Nỗ Lực cử xướng Tông Phong của họ. Vào năm thứ 17 (1660) niên hiệu Thuận Trị (), chùa Nhất Thời bị hoang phế, nhưng sau đó thì được trùng tu lại.