Thiên Đồng Như Tịnh

《天童如淨》 tiān tóng rú jìng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Tendō Nyojō, 1163-1228: vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, vì tánh tình của ông hào sảng vui vẻ nên trong Tùng Lâm đương thời thường gọi ông là Tịnh Trưởng (), sau này thì gọi là Trưởng Ông (), sinh ngày mồng 7 tháng 7 năm đầu (1163) niên hiệu Long Hưng () ở vùng Việt Châu (, Tỉnh Triết Giang), còn năm tháng ông Xuất Gia và thọ Cụ Túc thì không rõ. Sau khi Xuất Gia, ông chuyên tâm học giáo lý, đến năm 19 tuổi thì đến tham vấn Túc Am Trí Giám () ở Tuyết Đậu Sơn (). Ông khai ngộ với câu chuyện cây bá trước sân của Trí Giám, và được chấp thuận cho tu tập tại đây. Sau đó, ông trãi qua hơn 20 năm du lãng giang hồ, đến năm thứ 3 (1210) niên hiệu Gia Định (), ông đến trú tại Thanh Lương Tự () thuộc Phủ Kiến Giang (, Tỉnh Giang Tô). Về sau, ông đã từng sống qua các chùa như Thoại Nham Tự () ở Đài Châu (, Tỉnh Triết Giang), Nam Sơn Tịnh Từ Tự () ở Phủ Lâm An (, Tỉnh Triết Giang), Thoại Nham Tự ở Minh Châu (, Tỉnh Triết Giang), rồi sau đó lại quay trở về Tịnh Từ Tự. Nhận được di thư của Phái Vô Tế Liễu ()Thiên Đồng Sơn (), vào năm thứ 17 niên hiệu Gia Định (), ông đến trú trì Thái Bạch Sơn Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền Tự () vùng Minh Châu. Chính trong khoảng thời gian này thì Đạo Nguyên () của Nhật sang tham vấn và được chân Truyền Pháp môn tu gọi là Thân Tâm Thoát Lạc (), Chỉ Quản Đả Tọa (). Trong bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (, Shōbōgenzō) do Đạo Nguyên sáng tác sau này đã thể hiện đầy đủ phong cách và dung mạo của Như Tịnh. Vào ngày 17 tháng 7 năm đầu niên hiệu Thiệu Định () nhà Tống, ông Thị Tịch, hưởng thọ 66 tuổi. Ông có để lại bài kệ là “Lục thập lục niên, tội phạm Di Thiên, đả cá bột khiêu, hoạt hãm Huỳnh Tuyền. Di ! Tùng lai Sanh Tử bất tương cán (, Sáu mươi sáu năm, phạm tội ngất trời, nhảy nhót lung tung, rơi xuống suối vàng. Ôi chà ! Xưa nay sống chết chẳng hề hấn gì !).” Trước tác của ông để lại có Như Tịnh Thiền Sư Ngữ Lục () 2 quyển, Như Tịnh Thiền Sư Tục Ngữ Lục () 1 quyển.