Thiềm Quang

《蟾光》 chán guāng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tức chỉ cho ánh sáng mặt trăng, vì trong văn hóa cổ đại của Trung Quốc thường lấy con thiềm thừ (, con cóc) để thay thế cho mặt trăng. Cho nên cổ nhân thường dùng từ “ngân Thiềm Quang mãn (滿, trăng bạc sáng tròn).” Đạo Giáo Trung Quốc dùng chữ Thiềm Quang để chỉ cho Huệ Quang (, ánh sáng trí tuệ); còn Khí Công thì chỉ cho ánh sáng vàng ròng. Trong bài thơ Khê Thượng Nguyệt () của Thi Tăng Kiểu Nhiên (, ?-?) nhà Đường có câu: “Thiềm Quang tán phố tự, tố ảnh động luân liên (, ánh trăng tan bến nước, bóng trắng động sóng chìm).” Hay như trong bài từ Tình Cửu Trường () của Lữ Vị Lão (, ?-?) nhà Tống có đoạn: “Tuế hoa mộ, Thiềm Quang xạ tuyết, bích ngõa phiêu sương, trần Bất Động, hàn vô tế (, dịp cuối năm, ánh trăng bắn tuyết, ngói biếc bay sương, bụi chẳng động, lạnh vô cùng).” Trong bài Túy Bồng Lai Cửu Nguyệt Thập Bát Nhật Tây Quắc Lưu Thị Tiếu (西) của Khưu Xứ Cơ (, 1148-1227) nhà Nguyên có câu: “Nhạn ảnh trầm sa, Thiềm Quang chiếu dạ, huân huân đồng túy (, bóng nhạn chìm cát, ánh trăng chiếu đêm, vui vẻ say mèn).” Bản Tiêu Thích Kim Cang Kinh Khoa Nghi Hội Yếu Chí Giải (, Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 467) quyển 7 cũng có đoạn: “Thanh sơn lục thủy, dữ ngã hà thù, kim sanh Lệ thủy, Thiềm Quang mãn Thái Hư (滿, núi xanh nước biếc, cùng ta khác gì, vàng sanh sông Lệ, ánh trăng khắp Hư Không).” Hoặc như trong Chứng Đạo Ca Tụng (, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1291) lại có câu: “Lục Độ vạn hạnh thể trung viên, chân thể vô lao biện đồng biệt, vạn thủy Thiềm Quang nhậm khứ lưu, kiểu kiểu thiên tâm Duy Nhất nguyệt (, Sáu Độ muôn hạnh thể tròn đầy, thật thể chẳng cần phân khác giống, muôn dòng trăng sáng mặc cuốn trôi, vằng vặc giữa trời trăng một đóa).”