Thất Phân Biệt

《七分別》 qī fēn bié

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Nhà Duy Thức chia Tác Dụng nhận biết của Tâm Thức làm 7 thứ Phân Biệt là Hữu tướng, Vô Tướng, Nhậm Vận, Tầm cầu, Tứ sát, Nhiễm ô và Bất Nhiễm Ô. Luận Du Già sư địa quyển 1 giải thích:
1. Hữu tướng Phân Biệt: Đối với nghĩa đã tiếp nhận ở Quá Khứ, khi các căn thành thục và thạo về Danh Ngôn mà khởi lên Phân Biệt.
2. Vô Tướng Phân Biệt: Người chỉ theo sự dắt dẫn của Quá Khứ và như trẻ thơ... thông thạo về Danh Ngôn mà khởi lên Phân Biệt.3. Nhậm Vận Phân Biệt: Đối với cảnh giới Hiện Tiền, tùy theo thế lực của cảnh, tự do, Tự Tại Chuyển Biến mà khởi lên Phân Biệt.4. Tầm cầu Phân Biệt: Xem xét, tìm cầu các pháp mà khởi lên Phân Biệt.
5. Tứ sát Phân Biệt: Đối với điều đã tìm cầu, đã quán sát, lại thêm dò xét An Lập mà khởi lên Phân Biệt.
6. Nhiễm ô Phân Biệt: Do nuối tiếc Quá Khứ, ước vọng tương lai, chấp trước hiện tại mà khởi lên Phân Biệt.
7. Bất Nhiễm Ô Phân Biệt: Chẳng hạn như các pháp thiện, vô kí... đều thuộc về Bất Nhiễm Ô Phân Biệt, là sự Phân Biệt Khởi lên do tương ứng với xuất li Phân Biệt, vô khuể Phân Biệt, vô hại Phân Biệt, hoặc với bất kì một pháp thiện nào Như Tín... Luận Du Già sư địa quyển 8 cho rằng 7 Phân Biệt này đều lấy Tầm Tứ làm thể. Còn 7 Phân Biệt nói trong luận Đại Thừa A Tì Đạt Ma tạp tập quyển 2 thì 3 Phân Biệt đầu đều khác với các Phân Biệt nói trong luận Du Già sư địa; tức Hữu tướng Phân Biệt là chấp lấy tướng cảnh giới ở Quá Khứ và hiện tại; Vô Tướng Phân Biệt Khởi lên do mong cầu cảnh vị lai; Nhậm Vận Phân Biệt nghĩa là Ngũ thức thân Tự Tại Chuyển Biến ở cảnh giới của chính nó. Bốn Phân Biệt còn lại là Tầm cầu Phân Biệt, Tứ sát Phân Biệt, Nhiễm ô Phân BiệtBất Nhiễm Ô Phân Biệt đều lấy sự tính toán, Phân Biệt làm tự tính.