Thát Đát
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
Dattan: tên của một bộ tộc ngày xưa, còn gọi là Tháp Tháp Nhĩ (塔塔爾), được tìm thấy sớm nhất trong các ký lục dưới thời nhà Đường. Sau khi Thành Cát Tư Hãn (成吉思汗) chinh phục bộ tộc Tháp Tháp Nhĩ, Thát Đát trở thành tên gọi của chung của các bộ tộc Mông Cổ. Dưới thời nhà Minh, Thát Đát là tên gọi các bộ tộc hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn ở miền Đông; phía Đông có bộ tộc Ngột Lương Cáp (兀良哈), phía Tây tiếp giáp với bộ tộc Ngõa Lạt (瓦剌). Đức vua lớn lên gọi là Khả Hãn (可汗); có các quan Tri Viện (知院), Thừa Tướng (丞相), v.v. Trung tâm hoạt động đầu tiên của bộ tộc Thát Đát là Hòa Lâm (和林, tức là Cáp Nhĩ Hòa Lâm [哈爾和林] của nước Mông Cổ ngày nay). Vào năm thứ 8 (1410) niên hiệu Vĩnh Lạc (永樂), vua Thành Tổ (成祖, tại vị 1402~1424) thân chinh lên vùng sa mạc phía Bắc, quân thần của nhà vua bèn phân tán ra hoạt động ở các địa khu rộng lớn như Liêu Đông (遼東), Tuyên Phủ (宣府), Cam Túc (甘肅). Từ sau niên hiệu Thiên Thuận (天順, 1457-1464) nhà Minh, bộ tộc này dần dần vào địa khu Hà Sáo (河套). Dưới thời Gia Tĩnh (嘉靖, 1522-1566) nhà Minh, bộ tộc Yêm Đáp (俺答) cường thịnh, nên vào năm thứ 29 (1550) cùng niên hiệu trên, bộ tộc này đã từng vây khốn kinh đô. Tuy nhiên, thủ lãnh của họ là A Lỗ Đài (阿魯台), Yêm Đáp Hãn (俺答汗), v.v., đã từng được nhà Minh phong hiệu, và dâng cống phẩm. Ngoài ra, những người dân Thổ Nhĩ Kỳ cư trú ở một phần phía Nam nước Nga, nguyên xưa kia cũng có nguồn gốc quan hệ với người Mông Cổ; cho nên đây cũng là từ dùng để gọi dân Thổ Nhĩ Kỳ.