Thập Can

《十干》 shí gàn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: Mười Can, còn gọi là Thiên Can (), là 10 yếu tố được giải thích theo thứ tự cách đọc âm của tiếng Nhật, Trung Quốc, Triều Tiên, thuộc Ngũ Hành (), Ngũ Phương (), âm dương, gồm: (1) Giáp (, kō, jiǎ, gap, Mộc [], đông, dương); (2) Ất (, otsu, yǐ, eul, Mộc, đông, âm); (3) Bính (, hei, bǐng, byeong, Hỏa [], nam, dương); (4) Đinh (, tei, dīng, jeong, Hỏa, nam, âm); (5) Mậu (, bo, wù, mu, Thổ [], trung ương, dương); (6) Kỷ (, ki, jǐ, gi, Thổ, trung ương, âm); (7) Canh (, kō, gēng, gyeong, Kim [], tây, dương); (8) Tân (, shin, xīn, sin, Kim, tây, âm); (9) Nhâm (, jin, rén, im, Thủy [], bắc, dương); (10) Quý (, ki, guǐ, gye, Thủy, bắc, âm). Trong 10 Can này, Giáp-Kỷ, Ất-Canh, Bính-Tân, Đinh-Nhâm, Mậu-Quý tạo thành 5 nhóm, giữa hai Can ấy có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Khi hai Can này gặp nhau thì tạo thành Nhất Thể, được gọi là Can Hợp (). Từ mối quan hệ này Quyết Định vị trí của Đức Thần (, tức Tuế Đức Thần []). Tự bản thân của những Can thuộc về dương là Đức Thần, riêng những Can thuộc về âm, là Can Hợp mới trở thành Đức Thần. Vào thời nhà Ân (, khoảng 1600-1046 tcn), người ta cho rằng có tồn tại 10 mặt trời, mỗi ngày thay nhau mọc, tuần hoàn trong 10 ngày và tương truyền 10 Can được đặt tên theo các mặt trời ấy. Mặt trời tuần hoàn trong 10 ngày được gọi là tuần (); các danh từ Thượng Tuần (), Trung Tuần () và Hạ Tuần () cũng phát xuất từ đây. Thiên Can kết hợp với Địa Chi (, tức Thập Nhị Chi [, Mười Hai Chi]), gồm Tý (), Sửu (), Dần (), Mão (), Thìn (), Tỵ (), Ngọ (), Mùi (), Thân (), Dậu (), Tuất (), Hợi (), được gọi là Can Chi (), được dùng để biểu thị lịch pháp, v.v. Cứ hai yếu tố Can thuộc một yếu tố của Ngũ Hành và tương đương với âm hay dương. Tại Nhật Bản, dương () được xem là huynh (, anh), âm () là đệ (, em); tỷ dụ như Giáp là “ki-no-e (, mộc huynh)”, Ất là “ki-no-to (, mộc đệ)”. Cách đọc chữ Can Chi () là “eto (えと)” cũng phát xuất từ cách đọc “eto (えと)” của từ “Huynh Đệ ()”. Chư vị Thánh Nhân cũng như các nhà thiên văn học Trung Quốc Quan Sát cho biết rằng Can Giáp tượng trưng cho khí trời mát mẻ, cây cỏ tươi tốt; Ất là khí trời ấm áp, chim chóc, sâu bọ nhảy hót; Bính là ánh mặt trời chiếu khắp, thường có ánh Thái Dương; Đinh là ánh nắng chói chan, gió nóng bức, Cảm Giác tỏa nóng; Mậu là vật đến cùng cực thì phản ứng lại, chuyển sang quá độ; Kỷ là khí nóng tăng dần, khí lưu chẳng ổn định; Canh là khí trời chuyển mát, dễ sanh gió và sương mù; Tân là khí trời trở lạnh, dễ đọng mưa móc; Nhâm là trời lên lạnh ngắt, nước tràn sông hồ; Quý là khí trời âm hàn, ẩm thấp, tối tăm.