Thanh Minh

《聲明》 shēng míng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: śadha-vidhyā, Jātaka: shōmyō: trong các Kinh Điển Hán dịch nó là một trong Ngũ Minh, là hình thức văn pháp học. Nó còn được gọi là Phạn Bối (, bonbai), một hình thức âm nhạc Cổ Điển theo nghi thức Phật Giáo, có thêm âm tiết vào trong chơn ngôn (thần chú) cũng như kinh văn để xướng tụng. Hình thức này được truyền từ Trung Quốc vào Nhật Bản, sau này hình thức do Không Hải (, Kūkai) truyền vào là thuộc Dòng Nam Sơn Tấn () của Chơn Ngôn Tông. Còn hình thức do Viên Nhân (, Ennin) truyền thừa là Đại Nguyên Ngư Sơn Thanh Minh () của Thiên Thai Tông. Đa số các Thanh Minh Khúc do Viên Nhân truyền vào được phân chia ra các phái để lưu truyền, và đến thời Lương Nhẫn (, Ryōnin) thì Thanh Minh Học đã hình thành hệ thống rõ rệt. Vào đầu thời Liêm Thương, Trạm Trí (, Tanchi) thuộc Phái Cách Tân xác lập luận lý cùng với Tịnh Tâm (, Jōshin) thuộc Phái Bảo Thủ trọng thị khẩu xướng, đã xuất hiện rồi tranh nhau về chủ trương của họ; thế nhưng không bao lâu thì Phái Bảo Thủ điêu tàn và Phái Cách Tân hưng thịnh. Thanh Minh được tổ chức từ 3 loại, 5 âm, 7 thanh và 12 luật. Năm âm là Cung (), Thương (), Giác () Trưng () và Vũ (), có cùng tính cách với Do, Re, Mi của âm nhạc phương Tây. Bảy thanh gồm 5 âm kể trên cọng thêm vào nữa âm trên dưới hai âm Anh () và Biến () để hình thành nên. Ba loại gồm Lữ (), Luật () và Trung (); nếu thêm Biến Cung () và Biến Trưng () vào 5 âm thì hình thành Lữ Khúc (); chỉ riêng 5 âm được gọi là Luật Khúc (); hơn nữa, nếu thêm Anh Thương (), Anh Vũ () vào thì gọi là Trung Khúc (). Mười hai luật là 12 âm vị được gắn thêm vào giữa một quãng tám độ sai khoảng nữa âm, có tên gọi là Nhất Việt (), Đoạn Kim (), Bình Điệu (調), v.v. Thanh Minh có đặc chất của từng âm trong Ngũ Âm; hơn nữa, ngoài hai khúc Lữ Luật của Nhã Nhạc ra, nó còn phối thêm 3 loại Trung Khúc, v.v., và được xem như là nguyên lưu của âm nhạc Nhật Bản.