Thanh Mậu

《清茂》 qīng mào

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Thiền Sư Trung Quốc sống vào đời Nguyên, người ở Lạc thanh, Ôn châu (Chiết giang), họ Lâm, tự là Cổ lâm, hiệu là Kim Cương chàng, Lâm cư tẩu, người ta thường gọi là Mậu cổ lâm, rất nổi tiếng về Mặc Tích(viết chữ đẹp). Năm 12 tuổi, sư theo ngài Cô nham khải, chùa Quốc thanh, núi Thiên thai Xuất Gia, thi kinh được đậu. Sau đó, bất Chấp Sự khó khăn trong lúc đầu nhà Nguyên, sư vân du khắp trong nước, lần lượt tham yết các ngài Giản ông kính ở núi Tuyết đậu tại Minh Châu, Thạch lâm củng ở Nam bình, Giác an chân ở Thừa Thiên... Cuối cùng, sư Tham Học ngài Hoành Xuyên Như củng chùa Năng Nhân tại Nhạn hoành, Tinh Tiến nghiên tu và được nối pháp lúc sư 19 tuổi. Sau, sư trở về chùa Quốc thanh. Năm Đại Đức thứ 2 (1298) đời Nguyên, sư ẩn cư ở chùa Bạch Vân, núi Thiên bình, phủ Bình giang, được 9 năm thì dời đến chùa Khai nguyên, không bao lâu sư lui về tháp viện Thiệu Long ở núi Hổ khâu, niêm lại 100 tắc Tụng Cổ của ngài Tuyết Đậu Trùng Hiển. Niên hiệu Hoàng Khánh năm đầu (1312), sư lại trụ chùa Khai nguyên lần thứ 2; bấy giờ, do lời tâu xin của Dương quốc công, sư được vua ban cho Danh Hiệu Phù Tông Phổ Giác Phật Tính Thiền Sư. Về già, vâng mệnh triều đình, sư đến tham dự Đại hội Kim Sơn, được vua và các Đại thần tôn sùng, người đến cầu Pháp Ngữ tới số vài nghìn. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329), sư Thị Tịch, thọ 68 tuổi. Đệ Tử nối pháp có các vị: Liễu amThanh, Trọng mưu Lương du, Trúc tiên Phạm Tiên... Sau, sư Trúc tiên sang Nhật bản, khai sáng phái Mặc Tích của ngài Thanh Mậu Trúc tiên, là 1 trong 24 dòng của Thiền Tông Nhật bản. Sư có các tác phẩm: Cổ Lâm Thanh Mậu Thiền Sư Ngữ Lục 5 quyển, Cổlâm Thanh Mậu Thiền Sư thập di kệ tụng 2 quyển, Sơ trụ Bình giang phủ Thiên bình sơn Bạch Vân thiền tự Ngữ Lục, Khai nguyên thiền tự Ngữ Lục. [X. Tăng tập tục Truyền Đăng lục Q. 5.; Tục đăng tồn cảo Q. 6.; Ngũ Đăng Nghiêm Thống Q. 21.; Mặc Tích Tổ Sư truyện Q.thượng; Thiền Lâm Mặc Tích giải thuyết (Điềnsơn Phương nam)].