Thành Cát Tư Hãn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chinggi Khan (1167-1227). Thủy tổ của đế quốc Mông cổ, miếu hiệu là Thái tổ, vốn tên là Thiết mộc chân (Temümjin). Vào đầu thế kỉXIII, ông thống nhất các bộ lạc Mông cổ, rồi đem quân đi đánh các nước phía tây, bản đồ trải khắp vùng Trung á đến tận phía nam nước Nga. Theo suy đoán thì trước Thành Cát Tư Hãn, người Mông cổ và các dân tộc chung quanh, phần lớn tôn thờ Tát Mãn Giáo, Sùng Bái quỉ linh. Lúc Thành Cát Tư Hãn đang cầm quyền chính thì ngoài Tát Mãn Giáo, dường như còn có một số Tín Đồ Thiên chúa giáo và Hồi giáo. Về việc trước đời Nguyên, người Mông cổ đã tiếp nhận Lạt Ma Giáo hay chưa thì không có một luận thuyết nhất định nào, nhưng điều chắc chắn là sau khi chinh phục toàn cõi Tây tạng thì hẳn nhiên Thành Cát Tư Hãn đã có tiếp xúc với Lạt Ma Giáo. Theo truyền thuyết, ông đặc biệt tôn sùng ngài Khổng ca ninh bảo (1092-1158) thuộc đời thứ 2 của phái Tát ca, Tây tạng, đồng thời cúng dường Tam Bảo. Có thuyết cho rằng điều đó mang ý đồ chính trị, tuy nhiên, nó cũng cho thấy sự quan tâm mật thiết của ông đối với Lạt Ma Giáo. [X. Thái tổ kỉ trong Nguyên sử Q. 1.; Tự kỉ trong Tân nguyên sử Q. 1.; Thái tổ kỉ Q. 2.- 3; Turkestan down to the Mongol Invasion, 1928, by W.Barthold].