Thần Kinh

《神京》 shén jīng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: (1) Đế đô, thủ đô. Như trong bài Phụng Hòa Biệt Việt Vương () của Trương Đại An (, ?-?) nhà Đường có câu: “Lệ nhật khai phương điện, giai khí tích Thần Kinh (, trời đẹp bày thơm cõi, khí tốt tụ kinh đô).” Hay trong bài Tiểu Trùng Sơn () của Hòa Ngưng (, 898-955) thời Ngũ Đại có đoạn: “Xuân nhập Thần Kinh vạn mộc phương, cấm lâm oanh ngữ hoạt, điệp phi cuồng (, xuân đến đế đô cây cỏ thơm, vườn cấm oanh líu lo, bướm bay rối rít).” Trong bài Võ Xương Khởi Nghĩa Chơn Sử () của Tào Á Bá (, 1875-1937) cũng có câu: “Bỉnh nhĩ bạch mao, báo nhĩ Tiên Đức, trùng tân Cửu Đỉnh, tái điện Thần Kinh (, giữ vững ý chí người, báo đáp đức lớn người, trùng tu mới Cửu Đỉnh, tái thiết chốn Thần Kinh).” (2) Giống như tiên cảnh, kinh đô của tiên nữ. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm () quyển 42 có đoạn: “Chiêu chơn hạ lưu, quán ngã ngọc sương, vũ quần phân phân, y ngã tiên thường, việt quá thủy hỏa, phi đăng Thần Kinh (, mời Chơn Quân xuống dòng, rưới sương ngọc ta, quần long phấp phới, mặc áo tiên ta, vượt qua nước lửa, bay lên tiên cảnh).”