Thần Cơ

《神機》 shén jī

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có hai nghĩa chính. (1) Chỉ máy dệt vải. (2) Chỉ cho cơ vận, thời cơ. Như trong Đáp Phục Hy Thư () của Nguyễn Tịch (, 210-263) nhà Ngụy thời Tam Quốc có câu: “Nhược lương vận vị hiệp, Thần Cơ vô chuẩn (, nếu vận tốt không gặp thì thời cơ không đúng).” Hay trong truyện Tái Sanh Duyên (), hồi thứ 63 lại có câu: “Ngộ triệt Thần Cơ nhất niệm chơn, tiện tùng Cực Lạc chuyển Kim Luân (便, rõ biết Thần Cơ một niệm chơn, bèn từ Cực Lạc Chuyển Pháp Luân).” Trong Sở Thạch Phạn Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) quyển 1, phần Phật Nhật Phổ Chiếu Huệ Biện Sở Thạch Thiền Sư Lục Hội Ngữ Lục Tự () có câu: “Đại Huệ Đề Xướng Viên Ngộ chi đạo ư Kính Sơn, Thần Cơ Diệu Dụng, quảng đại vô ngại (, Đại Huệ Đề Xướng, Viên Ngộ truyền đạo ở Kính Sơn, Thần Cơ mầu nhiệm, rộng lớn không ngăn ngại).” Hoặc trong Ngốc Am Phổ Trang Thiền Sư Ngữ Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1418) quyển 3 có đoạn: “Vạn duyên tịch tức, nhất tánh Dung Thông, đại dụng toàn chương, Thần Cơ độc lộ, Cổ Phật dữ Lộ Trụ giao tham (, vạn duyên lặng dứt, một tánh thông suốt, đại dụng lộ rõ, Thần Cơ hiện bày, Phật xưa cùng cột trụ tham vấn).”