Thái Sơn

《泰山》 tài shān

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: còn gọi là Đại Tông (), Đại Sơn (), Đông Nhạc (), là ngọn núi đứng đầu Ngũ Nhạc (), tọa lạc tại miền Trung của Tỉnh Sơn Đông (), giáp giới với các tỉnh như Tề Nam (), Trường Thanh (), Lịch Thành (), Thái An (), v.v., rộng khoảng hơn 400 dặm vuông, phía Đông là biển lớn, phía Tây tựa vào Hoàng Hà (). Theo Thuật Dị Ký () của Nhiệm Phưởng (, 460-508) thời Lục Triều (, 220-589), dưới thời Tần (, 221-207 ttl.), Hán (, 202ttl.-220), truyền thuyết dân gian cho rằng Bàn Cổ () sau khi chết, đầu là Đông Nhạc, bụng là Trung Nhạc (), tay trái là Nam Nhạc (), tay phải là Bắc Nhạc (), chân là Tây Nhạc (西). Đầu của Bàn Cổ hướng về phía Đông, nên hóa thành Đông Nhạc, vì vậy Thái Sơn trở thành đầu của Ngũ Nhạc. Trong 36 Động Thiên của Đạo Giáo, Thái Sơn được xếp vào hàng Động Thiên thứ hai. Đạo Giáo du nhập vào ngọn Thái Sơn này lúc nào, hiện tại vẫn chưa xác định rõ. Tuy nhiên, trong quyển 94 của Tấn Thư (), Ẩn Dật Truyện () có ghi rằng vào thời nhà Tấn (, 265-316) có Đạo Sĩ Trương Trung () vào ẩn cư trong Thái Sơn, vậy ta có thể biết được rằng ít nhất ông là vị Đạo Sĩ đầu tiên vào trong núi này. Về miếu vũ trên Thái Sơn, có Đại Nhạc Miếu () được kiến lập sớm nhất vào thời Bắc Ngụy (, 386-543). Theo Thủy Kinh Chú () của Lịch Đạo Nguyên (, ?-527) nhà Bắc Ngụy cho biết rằng Đại Nhạc Miếu phân làm 3 miếu thượng, trung và hạ. Đến thời nhà Đường (, 618-907), cả ba ngôi đều được trùng tu, miếu trung được gọi là Đại Nhạc Quan (), Thế Gian gọi là Lão Quân Đường (), là nơi được Hoàng Đế nhà Đường phái Đạo Sĩ đến thờ tự Thái Sơn Thần. Từ thời nhà Đường, Tống (, 960-1279) trở đi, trên Thái Sơn có nhiều công trình kiến trúc được tạo dựng như Thanh Đế Quan (), Vương Mẫu Trì (), Thăng Nguyên Quan (), Bích Hà Nguyên Quân Từ (), Ngọc Đế Quan (), Hội Chơn Cung (), v.v. Đến thời nhà Minh (, 1368-1644), Thanh (, 1644-1912), Đạo Giáo trên Thái Sơn lại càng hưng thạnh hơn thêm và kéo dài cho đến hiện tại. Bên cạnh đó, các tự viện Phật Giáo cũng phát triển trên núi rất nhiều như Linh Nham Tự (), Phổ Chiếu Tự (), Hóa Quang Tự (), Tứ Thiền Tự (), Song Tuyền Am (), Hàm Thảo Tự (), v.v. Lịch đại chư vị đế vương đều tỏ vẻ vô cùng tôn sùng đối với Thái Sơn. Tương truyền xưa kia có xuất hiện 72 vị quân chủ, đều tập trung chư hầu trên núi này để tiến hành lễ tế trời đất gọi là Phong Thiền (). Từ thời thượng cổ các đế vương như Vô Hoài Thị (), Thần Nông Thị (), Viêm Đế (), Hoàng Đế (), Nghiêu (), Thuấn (), v.v., đều đã từng lên núi này hành lễ Phong Thiền, để tạ ơn chư vị thiên thần ủng hộ cho. Kể từ khi Tần Thỉ Hoàng (, tại vị 246-210 ttl.) lên núi hành lễ này vào năm 219 trước Công Nguyên trở về sau, Tây Hán Võ Đế Lưu Triệt (西, tại vị 141-87 ttl.), Đông Hán Quang Võ Đế Lưu Tú (, tại vị 25-57), Chương Đế Lưu Đạt (, tại vị 75-88), An Đế Lưu Hộ (, tại vị 106-125), Đường Cao Tông Lý Trị (, tại vị 649-683), Đường Huyền Tông Lý Long Cơ (, tại vị 712-756), Tống Chơn Tông Triệu Hằng (, tại vị 997-1022), v.v., cũng đã từng thân hành lên Thái Sơn làm lễ Phong Thiền. Như trong Sử Ký (), Phong Thiền Thư () có đoạn: “Thử Thái Sơn đảnh thượng trúc đàn tế Thiên, báo Thiên chi công, cố viết Phong (, trên đỉnh Thái Sơn dựng đàn tế Trời để báo đáp công Trời, gọi là Phong),” và “Thử Thái Sơn hạ tiểu sơn thượng trừ địa, báo Địa chi công, cố viết Thiền (, dưới chân Thái Sơn, dọn dẹp sạch trên núi nhỏ để báo đáp công Đất, gọi là Thiền).” Bên cạnh đó, các thi hào, văn nhân qua các thời đại cũng rất kính ngưỡng Thái Sơn, như Khổng Tử (, 552/551-479 ttl.) nhà Chu (), Tào Thực (, 192-232) nhà Ngụy (, 220-265), Tư Mã Thiên (, 135-90 ttl.) nhà Hán, Lục Cơ (, 261-303) nhà Tấn, Lý Bạch (, 701-762), Đỗ Phủ (, 712-770) nhà Đường, Tô Triệt (, 1039-1112) nhà Tống, v.v., đều có lưu lại những áng thi văn tuyệt hảo tán tụng về Thái Sơn. Trong Hàn Phi Tử (), chương Thập Quá () có đoạn rằng: “Tích giả Hoàng Đế hợp Quỷ Thần ư Thái Sơn thượng, giá tượng xa nhi lục giao long, Tất Phương tinh hạt; Xí Vưu cư tiền, Phong Bá tấn tảo, Vũ Sư lệ đạo, hổ lang tại tiền, Quỷ Thần tại hậu, Đằng Xà phục địa, Phụng Hoàng phú thượng, đại hợp Quỷ Thần (, xưa kia Hoàng Đế tập hợp Quỷ Thần trên Thái Sơn, hộ vệ xe voi có sáu con thuồng luồng, quái điểu Tất Phương nâng trục xe, thú thần Xí Vưu ở phía trước, Thần Gió Phong Bá quét dọn đường, Thần Mưa Vũ Sư rưới sách đường, cọp sói ở trước, Quỷ Thần phía sau, Rắn Bay nép dưới đất, chim Phụng Hoàng núp trên không, các Quỷ Thần tập hợp rất đông).” Hay như trong Trang Tử (), chương Tiêu Dao Du () có câu: “Hữu điểu yên, kỳ danh vi bằng, bối nhược Thái Sơn, dực nhược thùy thiên chi vân (, có con chim, tên nó là bằng [đại bàng], lưng nó như núi Thái Sơn, cánh nó như đám mây che trời).” Như trong bài Phi Long Thiên () của Tào Thực có đoạn miêu tả sự linh thiêng trên núi Thái Sơn rằng: “Thần du Thái Sơn, vân vụ yểu điệu, hốt phùng nhị đồng, nhan sắc tiên hảo, thừa bỉ bạch lộc, thủ y chi thảo, ngã tri Chân Nhân, trường quỳ vấn đạo (鹿, sớm dạo Thái Sơn, khói mây yểu điệu, chợt thấy hai trẻ, cỡi con hươu trắng, tay nắm cỏ chi, biết là Chân Nhân, quỳ xuống hỏi đường).” Trong ca dao Việt Nam thường có câu: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.” Từ đó, núi Thái Sơn to lớn, vĩ đại kia được ví cho công ơn của người cha đối với con.