Thái Chính Quan
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
Daijōkan, Ōimatsurigoto-no-Tsukasa: (1) Cơ Quan hành chính tối cao trong Luật Lịnh Quan Chế (律令官制), quản chưởng 8 Bộ trở xuống, chuyên trách toàn thể chính vụ. Hàng ngũ quan công khanh được hình thành bởi Thái Chính Đại Thần (太政大臣), Tả Hữu Đại Thần (左右大臣), Đại Nạp Ngôn (大納言, sau này còn có Trung Nạp Ngôn [中納言], Tham Nghị [參議]). Cục Thiếu Nạp Ngôn (少納言局), Cục Tả Hữu Biện Quan (左右辨官局) xử lý về mặt sự vụ kết quả phiên nghị quốc chính của các quan công khanh ấy. Cục Thiếu Nạp Ngôn thì quản lý Cục Ngoại Ký (外記局), chuyên trách về việc tuyên hạ những sắc chiếu, đóng nội ấn, ngoại ấn. Trong khi đó, Cục Tả Hữu Biện Quan thì thống lãnh cả 8 Bộ và chấp hành sự vụ hành chính. Từ cuối thời Bình An trở đi, Cơ Quan này hữu danh mà vô thật và vẫn tồn tại cho đến cuối thời kỳ Mạc Phủ. (2) Thái Chính Quan (太政官, Dajōkan), Cơ Quan tối cao của chính phủ vào đầu thời Minh Trị. Nhân phong trào Vương Chính Phục Cổ (王政復古) vào tháng 12 năm 1867 (Khánh Ứng [慶應] 3), việc phục hưng Thái Chính Quan được tiến hành; cho nên vào tháng 1 năm sau, Cơ Quan đại diện Thái Chính Quan được thiết lập; rồi đến tháng 4 nhuận, trong Chính Thể Thư (政体書), chức chế của Thái Chính Quan được quy định rõ ràng. Về mặt hình thức thì có 3 chức quan gồm: Nghị Chính Quan (議政官, Lập Pháp), Hành Chính Quan (行政官, hành chính) và Hình Pháp Quan (刑法官, tư pháp); rồi bên dưới Thái Chính Quan còn có 4 chức quan khác như Thần Kỳ (神祇), v.v. Vào năm 1869 (Minh Trị [明治] 2), dưới Thái Chính Quan và Thần Kỳ Quan lại có thêm 6 Bộ. Trong Thái Chính Quan có Chính Viện (政院), Tả Viện (左院), Hữu Viện (右院). Về sau, hai viện tả hữu bị phế bỏ; thay vào đó là Nguyên Lão Viện (元老院) và Đại Thẩm Viện (大審院). Cuối cùng, vào năm 1885 (Minh Trị 18), Cơ Quan này bị phế bỏ hẳn và sát nhập vào chế độ Nội Các.