Tể Lôn Siêu Vĩnh

《霽崙超永》 jì lún chāo yǒng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Sairin Chōei, ?-?: vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Tể Lôn (), người biên tập bộ Ngũ Đăng Toàn Thư (), xuất thân Huề Lý (, Huyện Gia Hưng, Phủ Gia Hưng, Tỉnh Triết Giang), họ Diêu (). Ban đầu, ông theo học Nho Giáo, đến khi biến loạn trong khoảng thời gian niên hiệu Sùng Trinh (, 1628-1645), ông gặp phải đạo tặc sắp nguy hại đến tính mạng nhưng may mắn thoát nạn. Về sau, nhân đọc cuốn Kim Túc Dung Ngữ Lục () của vị tăng nọ, ông cảm ngộ, nên vào mùa hạ năm thứ 7 (1650) niên hiệu Thuận Trị (), ông đến Lễ Bái Thâm Vân Quả () ở Gia Hưng (, Tỉnh Triết Giang) và xuống tóc Xuất Gia với vị này. Cũng vào mùa thu năm này, ông đến tham yết Bách Ngu Tịnh Tư (), rồi sau đó viếng qua các nơi như Thiên Đồng Sơn (), Kính Sơn (), Báo Ân Tự (), Kim Túc Tự (), v.v. Vào mùa xuân năm thứ 9 (1652) niên hiệu Thuận Trị, ông đến tham yết An Điền Tĩnh () ở Phước Nguyên (), và vào ngày mồng 8 tháng 12, ngày Phật thành đạo, ông được vị này thọ ký cho. Sau đó, ông đã từng sống qua và giáo hóa tại một số nơi khác như Tây Sơn Thánh Cảm Tự (西) ở Bắc Kinh (), Huyện Bình Hồ () thuộc Tỉnh Triết Giang (), Thượng Hải (), Gia Hưng (), Thiểm Tây (西), Huyện Vĩnh Gia () thuộc Tỉnh Triết Giang, v.v. Vào năm thứ 32 (1693) niên hiệu Khang Hy (), ông biên tập bộ Ngũ Đăng Toàn Thư (), 120 quyển. Ngoài ra, theo ký lục của Đệ Tử của ông là Minh Thành () cho biết rằng ông còn có các trước tác khác như Tể Lôn Siêu Vĩnh Thiền Sư Ngữ Lục () 20 quyển, Thâm Tuyết Thảo Đường Tập () 30 quyển, Pháp Uyển Anh Hoa (), Độc Thư Tùy Ký (), Cổ Kim Tăng Thi () 60 quyển.