Tăng Chánh

《僧正》 sēng zhèng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Sōjō: tên gọi của một chức Tăng Quan, có nghĩa là tự sửa mình cho đúng, giúp người khác làm cho đúng, chấp chưởng việc chỉnh đốn những việc làm sai trái của Tăng lữ, thống lãnh giáo đoàn Phật Giáo. Chức này tương đương với chức Sa Môn Thống () dưới thời Bắc Triều. Phần Lập Tăng Chánh () trong quyển Trung của Đại Tống Tăng Sử Lược () do Tán Ninh () nhà Tống soạn, có ghi rằng chữ “chánh ()” của Tăng Chánh đồng nghĩa với chữ “chính (, làm cho đúng)”. Người nhận chức Tăng Chánh đầu tiên là Tăng Bích () nhà Tiền Tần (, 334~394). Trong khoảng thời gian niên hiệu Thăng Minh (), vua Thuận Đế (, tại vị 477~479) nhà Tống suy cử Pháp Trì () làm chức quan này; rồi trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Minh (), Đạo Ôn () được bổ nhiệm làm Tăng Chánh của Đô Ấp (, tức Kiến Khang []). Tiếp theo, vua Võ Đế (, tại vị 502~549) nhà Lương bổ nhiệm Pháp Siêu () làm Tăng Chánh của Đô Ấp; rồi đến năm thứ 6 (525) niên hiệu Phổ Thông () thì cử Pháp Vân () làm Đại Tăng Chánh (), và Huệ Lịnh () làm Tăng Chánh. Vào đầu thời Bắc Tống (, 960~1127), triều đình cho đặt chức Tăng Chánh ở mỗi châu, tuyển chọn những người tài ba, đức hạnh để Đảm Đương trọng trách này. Tại Nhật Bản, chức Tăng Quan này được chế ra vào năm 624 đời Suy Cổ Thiên Hoàng (, Suiko Tennō, tại vị 592-628), có 3 loại là Tăng Chánh (), Tăng Đô ()Luật Sư (). Riêng Tăng Chánh và Tăng Đô lại chia thành Đại Tăng Chánh (), Đại Tăng Đô (), Thiếu Tăng Chánh () và Thiếu Tăng Đô (). Về sau chức Tăng Chánh này lại được phân làm ba cấp là Đại, Chánh, Quyền; Đại Tăng Chánh là tương đương với Đại Nạp Ngôn (), Chánh Tăng Chánh là Trung Nạp Ngôn () và Quyền Tăng Chánh là Tham Giảng ().