Tần Tảo

《蘋藻》 píng zǎo

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: loại cỏ Tần (thuộc khoa Cỏ Chữ Điền [, Điền Tự Thảo], lá nó bốn cái chấp làm thành hình chữ Điền [], là loại cỏ sống dưới nước lâu năm; bên cạnh đó, nó là tên gọi của loài cỏ Bồng, sống bềnh bồng trên mặt nước) và cỏ Tảo (rong biển, tên gọi chung các thứ cỏ mọc dưới nước); đều là tên loại cỏ nước. Người xưa thường hái loại cỏ này để làm vật cúng tế, từ đó nó có nghĩa là vật phẩm cúng tế hay sự cúng tế. Như trong thiên Chiêu Nam (), Thái Tần () của Thi Kinh () có câu: “Ư dĩ thái tần, nam giản chi tân, ư dĩ thái tảo, ư bỉ hàng lạo (, sao hái cỏ tần, tận chốn khe nam; sao hái rong biển, nơi vũng nước đọng kia).” Hay trong bài thơ Sương Trung () của Hàn Dũ (, 768-824) nhà Đường có đoạn: “Tần Tảo mãn bàn vô xứ điện, không văn ngư phụ khấu huyền ca (滿, Tần Tảo đầy mâm đâu chẳng cúng, không nghe chài lão vỗ thuyền ca).” Về sau, từ Tần Tảo này được dùng để chỉ đức tánh cao đẹp của người phụ nữ. Như trong bài thơ ru con của Việt Nam có câu: “Một đời Tần Tảo sớm hôm, nên bơ gạo trắng nên lòng thẳng ngay, bà ru dạy mẹ tháng ngày, đến nay mẹ lại nhớ lời ru con.” Hay như câu ca dao: “Cô hai buôn tảo bán tần, cô ba đòi nợ chỗ gần chỗ xa, cô tư dọn dẹp trong nhà, cô năm sắc thuốc mẹ già dưỡng nuôi.” Người Trung Quốc vẫn thường dùng câu “Tần Tảo Quyền Dư (輿, Tần Tảo ngay từ ban đầu)” để chúc tụng vào dịp lễ cưới xuất giá của người con gái. Câu “khiết Chiên Đàn Tần Tảo dĩ quy y ()” có nghĩa là làm trong sạch, thanh tịnh bằng hương gỗ Chiên Đàn để dâng cúng và xin quy y.