Tam Phong Phái
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chi phái thuộc tông Lâm tế, hưng thịnh vào thời Minh, Thanh, Tổ khai sáng là ngài Hán Nguyệt Pháp Tạng (1573-1635), người huyện Vô tích, tỉnh Giang tô, Trung Quốc. Cứ theo Ngũ Đăng Toàn Thư quyển 65, ngài Pháp tạngnghetiếng chẻ tre mà khai ngộ ở Tam phong (nằm về phía tây nam huyện Ngô, tỉnh Giang tô) tại Hải ngu. Vào năm Thiên Khải thứ 4 (1624), sư đến chùa Kim túc làm Thủ tọa của ngài Mật Vân Viên Ngộ, nhưng không đồng ý với thuyết Tự tính tự ngộ do ngài Viên ngộ Đề Xướng, mà chủ trương sự phân phái của Ngũ Gia Thiền Tông đều có lí do, dựa theo Nhất đại viên tướng mà suy tìm khảo xét về nguồn gốc của Phật Tổ, rồi vào năm Thiên Khải thứ 5 (1625), soạn Ngũ Tông Nguyên 1 quyển. Để đối lại, vào năm Sùng trinh thứ 7 (1634), ngài Viên ngộ soạn Thất tịch và 2 năm sau (1636) lại soạn Tam tịch để bác bỏ thuyết của ngài Pháp Tạng, Đệ Tử ngài Pháp Tạng là ngài Đàm cát Hoằng Nhẫn soạn Ngũ tông cứu để ủng hộ ngài Pháp Tạng. Vào năm ngài Hoằng Nhẫn Thị Tịch (1638), ngài Viên ngộ lại bác bỏ chủ trương của các ngài Pháp Tạng và Hoằng Nhẫn. Nhưng học trò ngài Pháp Tạng còn có nhiều người như: Cụ đức Hoằng Lễ, Kế khởi Hoằng trừ..., lại có Pháp Tôn là Kỉ ấm (trụ trì chùa Tường phù tại Thường châu) soạn Tông Thống Biên Niên 33 quyển, vì thế phái Tam phong rất hưng thịnh tại Giang nam. Nhưng vua Thế tông nhà Thanh tự soạn Giản ma biện dị lục 8 quyển để bác bỏ phái này, đồng thời, hủy hoại những bản khắc in Ngũ Tông Nguyên và Ngũ tông cứu; hơn nữa, vào năm Ung chính 11 (1733) cấm chỉ sự lưu truyền của phái này. [X. Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược Q. 8.; Ngũ Đăng Nghiêm Thống Q. 24.].