Tam Dương

《三陽》 sān yáng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: Dịch Học Tượng Số thời nhà Hán lấy 12 quẻ tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Trong đó, tháng 10 là quẻ Khôn (), thuần về hào âm; tháng 11 là quẻ Phục (), một dương sanh bên dưới; tháng 12 là quẻ Lâm (), hai dương sanh bên dưới; tháng Giêng là quẻ Thái (), ba dương sanh bên dưới. Lúc này âm dần tiêu, dương dần tăng trưởng, có ý là vạn sự vạn vật đều đổi mới. Cho nên, sau này người ta thường dùng từ Tam Dương khai thái (), Tam Dương giao thái () để xưng tụng, chúc mừng đầu năm mới hoặc ngụ ý Cát Tường, tốt đẹp. Như trong tờ Hạ Nguyên Đán Biểu () của Trương Cư Chánh (, 1525-1582) nhà Minh có đoạn: “Tư giả đương Tam Dương khai thái chi hầu, chánh vạn vật xuất chấn chi thời, khí chuyển hồng quân, cọng lạc Nghiêu thiên chi hóa nhật (, nay gặp lúc khí tiết đầu xuân tốt đẹp, đúng phải lúc vạn vật chuyển mình, khí rung đất trời, cùng vui ngày chuyển hóa dưới trời vua Nghiêu).” Hay trong Tục Chỉ Nguyệt Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1579) quyển 11 có câu: “Tam Dương giao thái, vạn vật hàm tân, hiển nhất chân chi Diệu Dụng, tổng tạo hóa chi uyên nguyên, trần trần hợp đạo, xứ xứ thông tân, pháp diên đại khải, giác uyển hoằng khai (, đầu xuân an thái, muôn vật mới toanh, lộ nguồn chơn ấy Diệu Dụng, thảy tạo hóa ấy uyên nguyên, nơi nơi hợp đạo, chốn chốn thấm nhuần, cỗ pháp rộng mở, vườn giác phô bày).”