Tam Đại Thừa
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chỉ cho 3 nghĩa của Đại Thừa nói trong Kim Quang Minh Kinh Huyền Nghĩa quyển thượng. Đó là:
1. Tính thừa(cũng gọi Lí thừa): Lí tính rỗng không thông suốt, tự nhiên vận chuyển các pháp.
2. Tùy thừa: Trí theo lí cảnh, như nắp theo hộp, tùy lí vận chuyển.
3. Đắc thừa: Đắc nghĩa là được quả, được cơ. Nhờ được quả nên có khả năng tự giải thoát. Tam Đại Thừa này là thường, lạc, ngã tịnh nên cùng với 3 đức Pháp Thân, Bát Nhã và giải thoát là một, không khác. Lại nữa, Tam quĩ: Chân Tính (tức Lí thừa), Quán Chiếu(tức Tùy thừa) và Tư thành (tức Đắc thừa) được nói trong Pháp Hoa Huyền Nghĩa quyển 5 hạ, cũng tương tự với Tam Đại Thừa này. Tam Đại Thừa, Tam quĩ, cho đến Tam đạo rốt cuộc là cùng thể khác tên, đều là Diệu Pháp có đầy đủ tam thiên Tam Đế, mỗi mỗi pháp đều dung nhập với nhau một cách mầu nhiệm, Tự Tại. [X. Nhiếp Đại Thừa Luận Thích Q. 11. (bản dịch đời Lương); Thập Nhị Môn Luận Sớ Q. 1.].
1. Tính thừa(cũng gọi Lí thừa): Lí tính rỗng không thông suốt, tự nhiên vận chuyển các pháp.
2. Tùy thừa: Trí theo lí cảnh, như nắp theo hộp, tùy lí vận chuyển.
3. Đắc thừa: Đắc nghĩa là được quả, được cơ. Nhờ được quả nên có khả năng tự giải thoát. Tam Đại Thừa này là thường, lạc, ngã tịnh nên cùng với 3 đức Pháp Thân, Bát Nhã và giải thoát là một, không khác. Lại nữa, Tam quĩ: Chân Tính (tức Lí thừa), Quán Chiếu(tức Tùy thừa) và Tư thành (tức Đắc thừa) được nói trong Pháp Hoa Huyền Nghĩa quyển 5 hạ, cũng tương tự với Tam Đại Thừa này. Tam Đại Thừa, Tam quĩ, cho đến Tam đạo rốt cuộc là cùng thể khác tên, đều là Diệu Pháp có đầy đủ tam thiên Tam Đế, mỗi mỗi pháp đều dung nhập với nhau một cách mầu nhiệm, Tự Tại. [X. Nhiếp Đại Thừa Luận Thích Q. 11. (bản dịch đời Lương); Thập Nhị Môn Luận Sớ Q. 1.].