Tam Chủng Thuỵ Miên
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Thụy Miên nghĩa đen là ngủ gục, nghĩa bóng là Phiền Não; Thụy Miên ở đây là Tác Dụng làm cho tâm trở nên mờ tối. Theo Di Giáo Kinh Luận thì có 3 Nguyên Nhân gây ra Thụy Miên:
1. Do ăn uống gây ra.
2. Do thời tiết gây ra.
3. Do tâm sinh ra. Hai Nguyên Nhân đầu là Thụy Miên của A La Hán, có thể dùng sự Tinh Tiến để Đối Trị; như ban ngày thì siêng năng tu tập các pháp lành, lúc đầu hôm và cuối đêm cũng không bỏ phế, nửa đêm có thể tụng kinh, không vì ngủ nghĩ mà luống phí 1 đời. Riêng Thụy Miên từ trong tâm Sinh Khởi thì có 2 cách Đối Trị:
1. Đối Trị bằng tư duy quán sát: Quán xét các pháp 5 ấm Sinh Diệt, hư hoại, nghĩ về lửa vô thường thiêu đốt các cõi Thế Gian, cầu trí tuệ thiền định để tự độ.
2. Đối Trị bằng Giới Pháp thanh tịnh: Thiền định tương ứng với giới tâm, để tâm mình an trụ trong 6 cảnh sắc, thanh..., có năng lực làm cho tự địa(Hoàn Cảnh của mình) thanh tịnh Trang Nghiêm, cũng khiến cho tha địa(Hoàn Cảnh của người khác) không lỗi. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q. 31.; kinh Phật Bản Hạnh tập Q. 59.]. (xt. Thụy Miên).
1. Do ăn uống gây ra.
2. Do thời tiết gây ra.
3. Do tâm sinh ra. Hai Nguyên Nhân đầu là Thụy Miên của A La Hán, có thể dùng sự Tinh Tiến để Đối Trị; như ban ngày thì siêng năng tu tập các pháp lành, lúc đầu hôm và cuối đêm cũng không bỏ phế, nửa đêm có thể tụng kinh, không vì ngủ nghĩ mà luống phí 1 đời. Riêng Thụy Miên từ trong tâm Sinh Khởi thì có 2 cách Đối Trị:
1. Đối Trị bằng tư duy quán sát: Quán xét các pháp 5 ấm Sinh Diệt, hư hoại, nghĩ về lửa vô thường thiêu đốt các cõi Thế Gian, cầu trí tuệ thiền định để tự độ.
2. Đối Trị bằng Giới Pháp thanh tịnh: Thiền định tương ứng với giới tâm, để tâm mình an trụ trong 6 cảnh sắc, thanh..., có năng lực làm cho tự địa(Hoàn Cảnh của mình) thanh tịnh Trang Nghiêm, cũng khiến cho tha địa(Hoàn Cảnh của người khác) không lỗi. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q. 31.; kinh Phật Bản Hạnh tập Q. 59.]. (xt. Thụy Miên).