Sư Tư
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: ý là Sư Đệ, sư đồ, thầy trò. Sư (師) ở đây nghĩa là người, vị thầy dạy dỗ đồ đệ, học trò; tư (資) là tư tài do thầy dạy ban cho, cũng có nghĩa là Đệ Tử. Đối với nhà Phật, mối quan hệ thầy trò đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thầy truyền trao pháp phái cho Đệ Tử, gọi là Sư Tư tương thừa (師資相承), Huyết Mạch (血脈). Theo Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ Kinh (尸迦羅越六方禮經, Taishō Vol. 1, No. 16) cho biết, Đệ Tử hầu thầy có 5 việc: (1) Phải kính cẩn, vui mừng; (2) Phải luôn nhớ ơn thầy; (3) Vâng theo lời thầy dạy; (4) Nghĩ nhớ không chán; (5) Phải đi theo sau khen ngợi thầy. Trong khi đó, thầy dạy Đệ Tử cũng có 5 điều: (1) Phải làm cho trò nhanh hiểu biết; (2) Phải làm cho trò hơn Đệ Tử người khác; (3) Muốn làm cho Đệ Tử không quên; (4) Các nghi vấn khó khăn đều phải giải thích rõ ràng; (5) Muốn khiến cho trí tuệ của Đệ Tử hơn thầy. Như trong Tuyết Phong Nghĩa Tồn Thiền Sư Ngữ Lục (雪峰義存禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1333) quyển 1, phần Khắc Tuyết Phong Ngữ Lục Duyên Khởi (刻雪峰語錄緣起), có đoạn: “Kiến đường trung hữu bảo tượng dữ Tam Môn điện vũ, hoảng như mộng trung sở kiến, nhân tất Sư Tư tương ngộ, Thiên Cổ do thông (見堂中有寶像與三門殿宇、恍如夢中所見、因悉師資相遇、千古猶通, thấy trong nhà có tượng báu và những ngôi điện vũ Tam Môn, mơ màng như thấy trong mộng, nhân đó thầy trò gặp nhau, Thiên Cổ được thông).”