Sinh Phạn

《生飯》 shēng fàn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Trước khi ăn, dành ra chút ít cơm (phạn) để Bố Thí cho Chúng Sinh. Vì rải cơm Bố Thí cho quỉ thần nơi đồng trống nên cũng gọi là Tán phạn. Đối tượng cúng thí thông thường là chim đại bàng cánh vàng, chúng quỉ thần ngoài đồng trống, mẹ con quỉ La Sát... Nếu cúng dường Tam Bảo, Minh Vương Bất Động và thần Quỉ tử mẫu thì gọi là Tam phạn (hay Tam bả). Lại vì có hàm ý là bày thức ăn ra để cúng thí Chúng Sinh, nên cũng gọi là Xuất thực, Xuất sinh, Sinh thực, Chúng Sinh thực. Cứ theo phẩm Phạm Hạnh trong kinh Niết Bàn quyển 16 (bản Bắc)Hữu Bộ tì nại da tạp sự quyển 31 thì pháp cúng thí này do chính đức Phật qui định để các Đệ Tử thực hành, tuy chỉ cúng thí 7 hạt cơm thôi, nhưng nhờ sức Chú Nguyện nên Chúng Sinh cũng được no đầy đủ. Lại nữa, ở nơi vắngvẻ, yên tĩnh làm 1 cái đài, trên đó đặt cơm cúng thí để cho chim, thú, sâu bọ... ăn, cái đài nàygọi là Sinh đài hoặc Sinh bàn (mâm để thức ăn cho Chúng Sinh). Cái đồ đựng cơm cũng gọi là Sinh bàn. Phép cúng thí: Khi niệm chú cúng dường, Thị Giả cầm đũa trong tay chắp tay lại, đưa đũa lên. Trước tụng kệ, sau trì chú. Bài kệ niệm cúng dường bữa cơm sáng là (Đại 82, 771 thượng): Pháp Lực bất tư nghị; Đại Bi vô chướng ngại; Thất lạp biến Thập Phương; Phổ thí chu Sa Giới. Thần chú: Án độ Lợi Ích Sa Ha (7biến). (Sức pháp chẳng nghĩ bàn; Đại Bi không ngăn ngại; Bảy hạt đến mười phương; Cúng thí khắp Sa Giới)¡. Bài kệ niệm cúng dường bữa trai ngọ: Đại bằng Kim Sí Điểu; Khoáng dã quỉ thần chúng; La Sát quỉ tử mẫu ;Cam lộ tất sung mãn. Thần chú: Án mục đế Sa Ha (7 biến). (Chim đại bàng cánh vàng; Chúng quỉ thần đồng trống; Mẹ con quỉ La Sát; Cam lộ đều no đủ). [X. kinh Bảo Vân Q. 5.; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 3; chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; môn Tế cúng trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên] .