Sa Thải Tăng Ni

《沙汰僧尼》 shā tài sēng ní

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Sa Thải có nghĩa là đãi lọc, gạn lọc. Sa Thải Tăng Ni nghĩa là bắt buộc 1 số tăng ni Hoàn Tục để chỉnh đốn lại tổ chức tăng ni trong giáo đoàn. Tại Trung Quốc, vào thời NgụyTấn Nam Bắc Triều để hạn chế giới tu sĩ, triều đình đã nhiều lần Sa Thải Tăng Ni. Truyện ngài Tăng Lãng trong Lương Cao Tăng Truyện quyển 5 (Đại 50, 354 trung) ghi: Sau, vua Phù Kiên Sa Thải chúng tăng, có hạ lệnh riêng rằng: Pháp sư Tăng Lãng là người có giới đức trong sạch như băng tuyết, học trò thanh tú, riêng núi Côn lôn không nằm trong trường hợp này. Phật Tổ Thống Kỉ quyển 36 (Đại 49, 341 hạ) cũng ghi: Năm Long an thứ 2 (398) đời vua An đế nhà Đông Tấn, Hoàn Huyền giữ chức Phụ chính, khuyên vua Sa Thải Tăng Ni, lệnh rằng: Những tăng ni nào có khả năng soạn thuật kinh sớ, diễn nói nghĩa lí, luật hạnh tu chính thì đều được tiếp tục tu tập, ngoài ra đều phải Hoàn Tục, chỉ có Lô Sơn là nơi các vị có Đạo Đức cư trú, không bị chi phối bởi lệnh này.Ngoài ra, vào năm Nguyên gia 12 (435) đời Tống văn đế, theo lời tâu của Doãn tiêu mô ở Đơn dương, vua hạ chiếu hạn chế việc đúc tượng đồng và kiến tạo chùa tháp, Tinh Xá, đồng thời Sa Thải mấy trăm tăng ni. Năm Đại Minh thứ 2 (458) đời Hiếu Vũ đế, do đạo nhân Đàm Tiêu và người Khương mưu phản, vua hạ lệnh Sa Thải Tăng Ni và đạo sĩ. Thời Tiền Phế đế (464-465) có xẩy ra việc đuổi tăng phá chùa, thờiTề vũ đế (482-493), vua từng sai Tăng Chính Pháp hiến và Huyền Sướng đến Tam ngô Sa Thải Tăng Ni. [X. Lương Cao Tăng Truyện Q. 8., 13; Nam tề thư bản kỉ].