Quy Ngưỡng Tông
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
Igyō-shū: một trong Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗) của Trung Quốc; Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐) và pháp từ của ông là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂), được xem như là tổ khai sáng Tông Phái này. Quy Ngưỡng (潙仰) là sự kết hợp tên đầu của hai ngọn núi Quy Sơn (潙山) và Ngưỡng Sơn (仰山), nơi hai vị Tổ Sư an trú, để đặt thành tên của Tông Phái. Vào đầu niên hiệu Nguyên Hòa (, 806-820) nhà Đường, Quy Sơn Linh Hựu, người kế thừa dòng pháp của Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), đến Đại Quy Sơn (大潙山) ở phía Tây của Huyện Ninh Hương (寧郷縣, Tỉnh Hồ Nam), kiến lập Đồng Khánh Tự (同慶寺) và tiếp độ cho hơn ngàn đồ chúng. Vào năm thứ 6 (879) niên hiệu Càn Phù (乾符), Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Đệ Tử của ông, cũng đến Viên Châu Ngưỡng Sơn (袁州仰山) ở Huyện Nghi Xuân (宜春), Tỉnh Giang Tây (江西省), cử xướng Tông Phong và hính thành một Tông Phái riêng. Vào khoảng thời Ngũ Đại (五代, 907-959), Tông Phái Nhất Thời huưg thịnh, nhưng đến thời nhà Tống thì suy tàn; cuối cùng hợp dòng với Lâm Tế Tông và tuyệt tích luôn. Mạng mạch của Tông Môn kéo dài trong khoảng 150 năm mà thôi. Về Tông Phong của phái này, Quy Sơn thì có phong cách Cơ Dụng hùng dũng; Ngưỡng Sơn thì nhờ vừa kế thừa Gia Phong của Quy Sơn, rồi kết hợp với Gia Phong của Đam Nguyên Ứng Chơn (耽源應眞, pháp từ của Nam Dương Huệ Trung [南陽慧忠]), nên khi dạy dỗ, hướng dẫn cho học chúng thì một mặt nghiêm khắc, sử dụng 96 loại viên tướng, v.v., của Tông Phong Nam Dương, và mặt khác làm cho dễ lãnh ngộ hơn. Tông Phong này hoàn toàn khác với sự cay đắng của Lâm Tế, sự nghiêm mật của Tào Động; và hình thành Tông Phong độc đáo, riêng biệt gọi là im lặng khế ngộ trong vấn đáp đối ứng.