Quý Đông
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: tên gọi tháng cuối cùng của tiết Đông, tức là tháng 12 Âm Lịch. Trong Lễ Ký (禮記), chương Nguyệt Lịnh (月令) có ghi rằng: “Quý Đông chi nguyệt, nhật tại Vụ Nữ, Hôn Lâu trung, Đán Đê trung (季冬之月、日在婺女、昏婁中、旦氐中, vào tháng cuối năm, mặt trời ở sao Vụ Nữ, buổi tối thì ở trong sao Lâu, buổi sáng sớm thì ở trong sao Đê).” Hay trong bài thơ Đầu Thánh Du (投聖俞) của Tư Mã Quang (司馬光, 1019-1086) nhà Tống có câu: “Cửu cù Quý Đông nguyệt, phong sa chánh thảm độc (九衢季冬月、風沙正慘黷, khắp nẻo đường tháng Chạp, gió cát thật nhơ nhớp).” Trong Kính Sơn Trích Nhũ Tập (徑石滴乳集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1308) quyển 3 có câu: “Quý Đông cực hàn, vạn mộc đoản tàn, duy hữu Mai hoa, thập phần thanh vận (季冬極寒、萬木短殘、惟有梅花、十分清韻, tháng Chạp băng hàn, cây cỏ điêu tàn, chỉ có hoa Mai, mười phần tươi xanh).” Trong bài Tặng Tường Cảnh Hưu Từ Chánh (贈祥景休嗣正) của Ngô Sơn Tịnh Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (吳山淨端禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1449) quyển 2 có đoạn: “Hy Ninh Quý Đông Tiết, dạ tọa canh dĩ cửu, nguyệt sắc xạ song hộ, tùng phong minh cốc khẩu (熙寧季冬節、夜坐更已久、月色射窗戶、松風鳴谷口, Hy Ninh tiết tháng Chạp, đêm ngồi canh đã lâu, ánh trăng xuyên song cửa, gió tùng vang miệng khe).” Hoặc trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 9 lại có đoạn: “Quý Đông hàn tiết, khứ lai vô biệt, thiên sơn vạn sơn, duy tích tàn tuyết, Thiền Khách tương phùng, tương hà Diễn Thuyết, các thỉnh quy đường, Tùy Duyên điềm yết (季冬寒節、去來無別、千山萬山、唯積殘雪、禪客相逢、將何演說、各請歸堂、隨緣憩歇, cuối Đông lạnh tiết, đến đi chẳng khác, ngàn núi vạn núi, chỉ chất trắng tuyết, khách Thiền gặp nhau, lấy gì Diễn Thuyết, đều mời về phòng, Tùy Duyên nghỉ mệt).”