Quản Thuộc Tăng Ni

《管屬僧尼》 guǎn shǔ sēng ní

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Chế độ quản lí tăng ni của triều đình Trung Quốc đời xưa. Cứ theo điều Quản Thuộc Tăng Ni trong Đại Tống Tăng Sử Lược quyển trung, trong thời kì đầu Phật giáo truyền vào Trung Quốc, thì tăng ni đều do Hồng Lô Tự của triều đình quản lí, đến đời Hậu Tần mới đặt ra Tăng Quan, nhưng vẫn chưa có cơ cấu hoàn bị. Thời Nam Bắc Triều bắt đầu thiết lập Quan thự, chuyên trông coi các công việc của Phật giáo. Thời Bắc Ngụy lập Giám phúc tào cai quản tăng ni trên khắp nước, sau đổi tên là Chiêu Huyền Tự (cũng gọi Chiêu huyền tào), đặt ra 1 vị Đại Thống, 1 vị Thống, 3 vị Đô Duy Na, dưới đặt Công Tào chủ bạ viên. Đại Thống hoặc Thống thông thường gọi là Sa Môn Đại Thống, Chiêu huyền Đại Thống, hoặc là Sa Môn Thống, Chiêu huyền Thống. Đời Tùy đổi là Sùng Huyền Thự, đầu đời Đường trực thuộc Hồng Lô Tự, sau lại đưa về Sùng Huyền Thự. Niên hiệu Diên tải năm đầu (694), Vũ tắc thiên ban sắc lệnh tăng ni toàn bộ trực thuộc Từ bộ. Đến năm Thiên bảo thứ 6 (747) lại ban lệnh cho tăng ni trực thuộc Lưỡng nhai Công Đức Sứ, sau lại cho trực thuộc Từ bộ. Thời vua Hiếu tông, dưới Lưỡng nhai Công Đức Sứ có thiết lập Tăng lục. Đến đời Ngũ đại và đời Tống, đại khái các cơ cấu và chức năng ấy vẫn tiếp tục được sử dụng. Đời Nguyên lập ra viện Tuyên chính để cai quản Tăng Đồ và công việc Phật giáo ở Tây tạng, dưới Chánh sứ phải dùng tăng lữ làm Phó sứ. Đời Minh đặt ti Tăng lục bên cạnh chính phủ Trung ương tại kinh đô để thống lãnh Phật giáo trên toàn quốc, dưới đó, đặt ti Tăng Cương ở các phủ, ti Tăng chính ở các châu và ti Tăng hội ở các huyện để trông coi công việc Phật giáo ở địa phương. Đời Thanh vẫn noi theo chế độ này.

Quản Thuộc Tăng Ni. Từ Điển Phật Học Vibudra. https://www.vibudra.org/glossary/thuatngu/quan-thuoc-tang-ni. Truy cập 07/04/2026.