Phật Quang Tổ Nguyên

《佛光祖元》 fó guāng zǔ yuán

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Bukkō Sogen, 1226-1286: vị Thiền tăng của Phái Dương Kì và Phá Am thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, vị tổ Khai Sơn Viên Giác Tự (, Enkaku-ji) ở vùng Liêm Thương (, Kamakura), vị tổ của Phái Phật Quang (), tự là Tử Nguyên (), hiệu Vô Học (), người Phủ Khánh Nguyên (, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), họ là Hứa (). Theo lời chỉ thị của anh là Trọng Cử Hoài Đức (), ông đến tham bái Bắc Nhàn Cư Giản () ở Tịnh Từ Tự (), Hàng Châu (, thuộc Tỉnh Triết Giang) và xuất gia theo vị nầy. Sau đó, ông đến làm môn hạ của Vô Chuẩn Sư Phạm () ở Kính Sơn (), được vị nầy ấn khả cho và kế thừa dòng pháp. Sau khi thầy ông qua đời, ông lại đến tham yết một số Danh Tăng khác như Thạch Khê Tâm Nguyệt () ở Linh Ẩn Tự (), Yển Khê Quảng Văn () ở Dục Vương Sơn (), Hư Đường Trí Ngu (), v.v. Sau đó, ông trở về quê cũ, theo làm môn đệ của Vật Sơ Đại Quán () ở Đại Từ Tự () mà tu hành tọa Thiền suốt hai năm ròng. Về sau, thể theo lời thỉnh cầu của vị ấp chủ La Quý Trang (), ông đến trú tại Bạch Vân Am () ở Đông Hồ (). Khi ấy ông 37 tuổi, ông sống nơi đây trong vòng 7 năm, rồi sau khi thân mẫu ông qua đời, ông đến phụ giúp với pháp huynh Thối Canh Hành Dũng (退) ở Linh Ẩn Tự. Kế tiếp ông lại được Đại Truyền Cống Thu Hác () cung thỉnh đến trú tại Chơn Như Tự (), vùng Đài Châu (, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay) trong vòng 7 năm. Đến năm đầu (1275) niên hiệu Đức Hựu (), để lánh nạn đao binh của quân nhà Nguyên, ông đến trú tại Năng Nhân Tự () vùng Ôn Châu (, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay). Sau đó, ông lại trở về Tứ Vương Sơn (), đến tham viếng pháp huynh ở Thiên Đồng Sơn () là Hoàn Khê Duy Nhất (), dừng chân lưu lại đây và thuyết giáo cho đại chúng. Đến năm thứ 2 (1279) niên hiệu Hoằng An (), nhân việc Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông (, Hōjō Tokimune) triệu thỉnh những vị Thiền tăng cao đức sang Nhật làm trú trì Kiến Trường Tự (, Kenchō-ji) ở vùng Liêm Thương (, Kamakura), Tổ Nguyên được suy cử, nên vào tháng 5 cùng năm nầy ông rời khỏi Thái Bạch Sơn (), rồi ngày 30 tháng 6 thì đến Thái Tể Phủ (), và tháng 8 thì đến Liêm Thương. Khi ấy Thời Tông nghênh đón ông rất trọng thể, và cử ông làm trú trì Kiến Trường Tự sau khi Lan Khê Đạo Long () qua đời. Vào mùa đông năm 1282, Thời Tông kiến lập nên Viên Giác Tự, rồi thỉnh Tổ Nguyên đến làm tổ Khai Sơn chùa nầy. Về sau, ông kiêm quản cả hai chùa Kiến Trường và Viên Giác, bố giáo Thiền phong khắp vùng Liêm Thương, và trong vòng 8 năm lưu trú tại Nhật, ông đã xác lập cơ sở Lâm Tế Tông Nhật Bản. Vào tháng 8 năm thứ 9 niên hiệu Hoằng An (), ông phát bệnh, và đến ngày mồng 3 tháng 9 thì viên tịch, hưởng thọ 61 tuổi đời, 49 pháp lạp. Ông được ban Thụy Hiệu là Phật Quang Quốc Sư () và hiệu là Viên Mãn Thường Chiếu Quốc Sư (滿). Bộ Phật Quang Quốc Sư Ngữ Lục () của ông gồm 10 quyển hiện còn lưu hành.