Phật Pháp Đại Minh Lục

《佛法大明錄》 fó fǎ dà míng lù

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Buppōdaimeiroku, năm 1229: 20 quyển, trước tác của Khuê Đường Cư Sĩ () vào cuối thời nhà Tống, có lời tựa của Không Ẩn Đạo Nhân () ghi năm thứ 2 (1229) niên hiệu Thiệu Định (), lời tựa của Tác Giả, lời tựa của Cư Sĩ họ Lý vào năm thứ 2 (1235) niên hiệu Đoan Bình (). Ngoài ra, Khuê Đường còn viết lời hậu tựa, Đạo Lâm () và Chơn Chiếu () ở Xuân Trừng Am () ghi lời bạt vào năm thứ 2 (1226) niên hiệu Bảo Khánh (). Nội dung bộ này ghi rõ những điều cần phải dụng tâm về Thiền pháp tu hành như Minh Tâm, tịnh hạnh, phá mê, nhập lý, Công Phu, gặp Cơ Duyên, đại ngộ, đại dụng, chơn không, độ người, Diệt Độ, Hóa Thân, và phần tạp ký, dẫn chứng hơn 80 loại Ngữ Lục Thiền, làm sáng tỏ tư tưởng cũng như lập trường của chính Khuê Đường, và từ lập trường của Thiền khẳng định rõ sự nhất trí của Tam Giáo. Khi Thánh Nhất Quốc Sư Viên Nhĩ () từ Trung Quốc trở về, ông có mang vào Nhật thư tịch này. Trong Thánh Nhất Quốc Sư Niên Phổ () có thuật lại sự việc thầy ông là Vô Chuẩn Sư Phạm () đã lấy pháp y của Dương Kì () và bộ sách này Phó Chúc cho Viên Nhĩ rồi dạy rằng: “Việc lớn của Tông Môn vốn ở trong bộ sách này, khi trở về nước thì hãy lấy đây làm chuẩn”. Tuy nhiên, trong phần Thánh Nhất Quốc Sư Truyện () của bộ Nguyên Hanh Thích Thư (), Hổ Quan Sư Luyện ()―pháp hệ của Quốc Sư―lại cho tác phẩm này là giả truyền, không có thật. Thế nhưng, sự thật là trong số thư tịch Quốc Sư mang về Nhật có bộ này, việc này ngay cả Hổ Quan cũng công nhận. Hiện tại, bản nhà Tống ghi năm thứ 2 (1229) niên hiệu Thiệu Định () được tàng trữ tại Linh Vân Viện () của Đông Phước Tự (, Tōfuku-ji), bản nhà Nguyên ghi năm thứ 16 (1356) niên hiệu Chí Chánh () ở Thiên Lý Đại Học (), bản nhà Minh ghi năm đầu (1399) niên hiệu Kiến Văn () ở Đại Đông Cấp Kỷ Niệm Văn Khố (), v.v.