Phật Giáo Thi Ca
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Thơ ca trong Phật giáo. Trong Phật giáo, thơ được gọi là Già đà (Phạm: Gàthà, Hán dịch: Kệ tụng), do cách sắp xếp và âm vận dài, ngắn khác nhau nên thơ có nhiều loại. Nói một cách khái quát thì thơ căn cứ vào vận luận mà hình thành. Hình thức Thi Ca xưa nhất trong Phật giáo là kinh Pháp cú (Pàli: Dhammapada) và Kinh Tập (Pàli: Suttanipàta). Thông thường, thơ được chia làm 2 loại: Tức vật và Tức hứng. Trong thơ hoặc có hàm ý dạy răn, khuyên bảo người đời, hoặc diễn tả trạng thái Nội Tâm. Những bài thơ do các vị trưởng lão tăng sáng tác được xếp vào Trưởng lão kệ (Pàli: Theragàthà), trong đó có rất nhiều bài thơ đẹp, miêu tả tâm nguyện cầu đạo, quá trình tu đạo, cảnh vật tự nhiên và tâm cảnh nội tại giao cảm. Phong cách trong Thi Ca Phật giáo Đại Thừa rất thanh nhã và trình độ tự sự cũng rất cao, như trong thơ của ngài Mã Minh, 1 thi nhân lớn của Phật giáo Đại Thừa. Tại Trung Quốc, đặc sắc Thi Ca Phật giáo phần nhiều ở chỗ miêu tả tâm cảnh khai ngộ của các Thiền Sư, ý thơ rất cao siêu, huyền diệu, thanh thoát, lâng lâng, sâu xa thăm thẳm, người thường không thể cảm thưởng được. Mà loại thơ này cũng rất nhiều, chỉ kể trong 2 tập Bích Nham Lục và Thung Dung Lục thôi cũng có hàng nghìn bài rồi. Hãy đọc bài thơ của Thiền Sư Tuyết Đậu Trùng Hiển phụ thêm trong Công Án Bàn Sơn Tam Giới Vô Pháp trong Bích Nham Lục như sau (Đại 84, 175 trung): Tam Giới vô pháp Hà xứ cầu tâm? Bạch Vân vi cái Lưu tuyền tác cầm Nhất khúc lưỡng khúc vô nhân hội Vũ quá dạđường thu thủy thâm. (Ba cõi không một pháp Tìm tâm ở nơi đâu? Mây trắng kia tàn lọng Suối reo này tiếng đàn Một vài khúc nhạc nào ai hiểu? Đêm thu mưa lạnh nước ao sâu). (xt. Phật Giáo Văn Học).