Pháp Vương Tự
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chùa ở chân núi phía nam ngọn Thái thất thuộc Tung sơn, huyện Đăng phong, Tỉnh Hà nam, Trung Quốc, tương truyền được sáng lập vào năm Vĩnh bình thứ 10 (71) đời vua Minh Đế nhà Hán. Khoảng năm Thanh Long đời vua Minh Đế nhà Ngụy, chùa được đổi tên là chùa Hộ quốc. Thời Tây Tấn xây dựng thêm chùa Pháp hoa ở phía trước chùa này. Đến đầu đời Tùy, có xây tháp Xá Lợi, lại được đổi tên là chùa Xá Lợi. Khoảng năm Trinh quán đời Đường, vua Thái tông ban sắc tu bổ tượng Phật, cấp cho ruộng vườn và đổi tên là chùa Công Đức. Đến khoảng năm Khai nguyên, vua Huyền Tông lại đổi tên là chùa Ngự dung. Khoảng năm Đại lịch, vua Đại tông ra lệnh sửa lại nhà điện, lầu gác và đổi tên là chùa Văn Thù Sư Lợi quảng đức Pháp Vương. Đến đời Ngũ đại, chùa được chia ra 5 viện theo tên cũ: Hộ quốc, Pháp hoa, Xá Lợi, Công Đức và Ngự dung. Đầu đời Bắc Tống, chùa được gọi chung là Ngũ viện. Khoảng năm Khánh lịch, vua Tống nhân tông cho xây dựng thêm các nhà điện, phòng tăng, làm lại các tượng Phật và đổi tên là chùa Tung Sơn Đại Pháp Vương. Trong chùa hiện còn các kiến trúc: Điện Tì Lô, Điện Đại Hùng và ngôi tháp 5 tầng, hình vuông, bằng gạch.