Pháp Hoa Ngũ Trọng Huyền Nghĩa
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Năm lớp nghĩa huyền diệu của kinh Pháp hoa do ngài Trí Khải tông Thiên thai thành lập. Ngũ trùng là: Thích Danh, Biện Thể, Minh tông, Luận dụng và Phán giáo. Ngũ trùng này được ngài Trí Khải sử dụng để giải thích tất cả các kinh.
1. Thích Danh: Dùng pháp và dụ để đặt tên. Pháp là Diệu Pháp, dụ là Liên Hoa. Nghĩa là pháp quyền, thực, Thập Giới, thập như, rất vi diệu không thể nghĩ bàn, cho nên phải tạm mượn Thí Dụ để làm cho sáng tỏ, đem Diệu Pháp để dụ cho quyền thực Nhất Thể, dùng hoa sen để dụ cho hoa quả đồng thời. Đó là dùng pháp và dụ để đặt tên, nên gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.
2. Biện Thể: Lấy thực tướng làm thể. Nghĩa là thực tướng Trung Đạo là cái thể mầu nhiệm(Diệu Thể)được kinh Pháp hoa giải bày, vì thế nên nói Thực tướng là thể.
3. Minh tông: Lấy Nhân Quả Nhất Thừa làm tông. Nhất Thừa là Nhất Thực tướng; Tông là nghĩa cốt yếu. Nghĩa là tu hạnh thực tướng là nhân, chứng lí thực tướng là quả, vì thế nói Nhân Quả Nhất Thừa là Tông.
4. Luận dụng: Lấy dứt ngờ sinh tin làm dụng. Dụng là lực dụng, nghĩa là dùng Diệu Pháp Đại Thừa để mở bày Căn Cơ viên mãn; đối với Tích môn khiến cho dứt trừ mối ngờ Quyền Giả mà sinh lòng tin chân thực; đối với Bản môn thì dứt mối ngờ gần(Phật mới thành gần đây) mà sinh lòng tin xa(Phật đã thành từ lâu), vì thế nên nói dứt ngờ sinh tin là dụng.
5. Phán giáo: Lấy Đề Hồ vô thượng làm giáo tướng. Lời dạy của bậc Thánh gọi là Giáo, Phân Biệt giống nhau hay khác nhau gọi là Tướng. Nghĩa là kinh Pháp hoa thuần là Viên giáo và rất mầu nhiệm, khác hẳn với các giáo Tiểu Thừa Thiên Chấp, cũng như Đề Hồ Thượng Vị khác hẳn với các vị: Nhũ, lạc, sinh tô và thục tô, vì thế nên nói Đề Hồ vô thượng là giáo tướng. [X. Pháp Hoa Huyền Nghĩa thích tiêm Q. 1.]. (xt. Ngũ Trùng Huyền Nghĩa, Bản Tích Nhị Môn).
1. Thích Danh: Dùng pháp và dụ để đặt tên. Pháp là Diệu Pháp, dụ là Liên Hoa. Nghĩa là pháp quyền, thực, Thập Giới, thập như, rất vi diệu không thể nghĩ bàn, cho nên phải tạm mượn Thí Dụ để làm cho sáng tỏ, đem Diệu Pháp để dụ cho quyền thực Nhất Thể, dùng hoa sen để dụ cho hoa quả đồng thời. Đó là dùng pháp và dụ để đặt tên, nên gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.
2. Biện Thể: Lấy thực tướng làm thể. Nghĩa là thực tướng Trung Đạo là cái thể mầu nhiệm(Diệu Thể)được kinh Pháp hoa giải bày, vì thế nên nói Thực tướng là thể.
3. Minh tông: Lấy Nhân Quả Nhất Thừa làm tông. Nhất Thừa là Nhất Thực tướng; Tông là nghĩa cốt yếu. Nghĩa là tu hạnh thực tướng là nhân, chứng lí thực tướng là quả, vì thế nói Nhân Quả Nhất Thừa là Tông.
4. Luận dụng: Lấy dứt ngờ sinh tin làm dụng. Dụng là lực dụng, nghĩa là dùng Diệu Pháp Đại Thừa để mở bày Căn Cơ viên mãn; đối với Tích môn khiến cho dứt trừ mối ngờ Quyền Giả mà sinh lòng tin chân thực; đối với Bản môn thì dứt mối ngờ gần(Phật mới thành gần đây) mà sinh lòng tin xa(Phật đã thành từ lâu), vì thế nên nói dứt ngờ sinh tin là dụng.
5. Phán giáo: Lấy Đề Hồ vô thượng làm giáo tướng. Lời dạy của bậc Thánh gọi là Giáo, Phân Biệt giống nhau hay khác nhau gọi là Tướng. Nghĩa là kinh Pháp hoa thuần là Viên giáo và rất mầu nhiệm, khác hẳn với các giáo Tiểu Thừa Thiên Chấp, cũng như Đề Hồ Thượng Vị khác hẳn với các vị: Nhũ, lạc, sinh tô và thục tô, vì thế nên nói Đề Hồ vô thượng là giáo tướng. [X. Pháp Hoa Huyền Nghĩa thích tiêm Q. 1.]. (xt. Ngũ Trùng Huyền Nghĩa, Bản Tích Nhị Môn).