Oa Tạng

《瓦藏》 wǎ zàng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Chỉ cho Đại Tạng Kinh của chùa Khoan vĩnh tại Đông kinh, in bằng hoạt tự bản (sắp từng chữ lại với nhau để in) vào thời Giang hộ, Nhật bản. Bản Đại Tạng Kinh này do ngài Thiên Hải (giữ chức Tăng chính) Phát Nguyện hoàn thành, bắt đầu vào năm Khoan vĩnh 14 (1637) đến niên hiệu Khánh an năm đầu (1648) thì in xong, gồm 665 hòm, 6.323 quyển. Lối ấn loát hoạt tự bản từ Triều tiên truyền vào Nhật bản, cho nên trong thời gian các năm Khánh trường, Nguyên hòa và Khoan vĩnh đã có rất nhiều sách vở được in bằng hoạt tử bản, Đại Tạng Kinh cũng là 1 trong số đó. Tương truyền, Oa Tạng lấy Đại tạng bản đời Tống được cất giữ ở viện Pháp Kim Cương tại Hoa viên Kinh đô (Kyoto) làm bản thảo, nhưng văn tự bị sai lầm rất nhiều. Năm Thiên hòa thứ 3 (1683), Mục Lục Đại Tạng Kinh đời Minh lấy Oa Tạng làm gốc để ấn hành, có ghi chú thêm về sự sai khác giữa số các hòm. Trong phần Duyên Khởi khắc in của Đại Tạng Kinh bản Hoàng bá, cho rằng Nhật bản chưa từng ấn hành Đại Tạng Kinh, đó là điều sai lầm. Bởi vì các chùa gốc thuộc phai Bản Nguyện Tự, Bản Quốc Tự tại Kinh đô đều có cất giữ bản hoàn chỉnh của Oa Tạng.

Oa Tạng. Từ Điển Phật Học Vibudra. https://www.vibudra.org/glossary/thuatngu/oa-tang. Truy cập 06/04/2026.