Nhất Hưu Tông Thuần
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
Ikkyū Sōjun, 1394-1481: vị tăng của Phái Đại Ứng (大應派) thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, cha là Hoàng Đế Hậu Tiểu Tùng (後小松), mẹ là con của Nam Triều Di Thần (南朝遺臣), hiệu là Nhất Hưu (一休), ngoài ra còn có các biệt hiệu khác như Cuồng Vân Tử (狂雲子), Mộng Khuê (夢閨), Hạt Lư, Quốc Cảnh (國景), Vân Hoa (雲華), v.v. Vào ngày mồng một tháng giêng năm đầu (1394) niên hiệu Ứng Vĩnh (應永), mẹ ông rời khỏi cung nội và hạ sanh ra ông nơi nhà thứ dân. Đến năm thứ 6 (1399) cùng niên hiệu trên, ông đến xuất gia làm đồng tử với Tượng Ngoại Thiền Giám (象外禪鑑) ở An Quốc Tự (安國寺) thuộc kinh đô Kyoto, và được đặt cho tên là Chu Kiến (周建). Ông từng học làm thơ với Thanh Tẩu Sư Nhân (清叟師仁), Cung Triết Long Phàn (恭哲龍攀), Tường Cầu Thư Ký (祥球書記), và mỗi ngày thường làm ra một bài thơ. Hơn nữa, ông cũng chẳng hài lòng với mấy bài viết về hàng thị tộc quan lại nhân ngày kiết chế Thượng Đường, nên đã làm hai câu đem trình lên cho Cung Triết xem. Cung Triết nghe mấy câu kệ nói về sự ngu dốt của tòng lâm mà nhân đó khen ông. Sau ông đến tham vấn Khiêm Ông Tông Vi (謙翁宗爲) ở Tây Kim Tự (西金寺), rồi sau khi vị này qua đời thì ông lại đến tham yết Hoa Tẩu Tông Đàm (華叟宗曇) ở Kiên Điền (堅田) vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]). Về sau ông được thầy ban cho hai chữ Nhất Hưu (一休) và lấy đó làm đạo hiệu. Sau khi hầu hạ thầy được một thời gian khá lâu, cuối cùng ông mới được ấn chứng cho. Nhưng rồi, ông lại đem ném ấn chứng nầy vào lửa, và bắt đầu sống cuộc đời phóng khoáng lãng du đó đây, và đã từng trú chân tại một số chùa như Thù Ân (酬恩) ở vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]), Từ Tế (慈濟) ở vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi, thuộc Ōsaka-fu [大阪府]), v.v. Đến tháng 2 năm thứ 6 niên hiệu Văn Minh (文明), Nhu Trọng Tông Giáng (柔仲宗降) phụng sắc chỉ cung thỉnh ông đến trú trì Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), nhưng ông tự răn mình và không chấp nhận lời thỉnh cầu trên. Ông thị tịch vào ngày 21 tháng 11 năm thứ 13 (1481) cùng niên hiệu trên, hưởng thọ 88 tuổi. Ông để lại di kệ rằng: “Tu Di nam bạn, thùy hội ngã Thiền, Hư Đường lai dã, bất trực bán tiền. (修彌南畔、誰會我禪、虛堂來也、不直半錢, ven phía nam núi Tu Di, có ai là người hiểu được Thiền của ta. Hư Đường Trí Ngu có đến chăng nữa, cũng chỉ đáng nửa xu mà thôi”. Trước tác của ông có Cuồng Vân Tập (狂雲集).